vanban.org

Bản án 34/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Võ Chí K phạm tội:"Cướp giật tài sản"

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 21 tháng 09 năm 2020. [2] Áp dụng khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Võ Chí K phạm tội:"Cướp giật tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN P
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HSST
Ngày: 16-03-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN P, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc M

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Công T

2/ Bà Nguyễn Thanh T

Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều O – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân P, thành phố H

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân P, thành phố H tham gia phiên

toà: bà Nguyễn Thị L – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 19/2021/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HS ngày 24/02/2021 đối với bị cáo:

Võ Chí K; sinh năm:1994; tại Thành phố H; Thường trú: 262/26/78G Lũy Bán B, phường Hòa T, quận Tân P, Thành phố H; chỗ ở: 262/26/78G Lũy Bán B, phường Hòa T, quận Tân P, Thành phố H; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Phụ giúp gia đình; Con ông Võ Minh N và bà Huỳnh Thị N, chưa có vợ con.

Nhân thân bị can:

- Từ nhỏ sống cùng gia đình, học hết lớp 9 thì ở nhà phụ giúp gia đình

- Ngày 27/09/2011 bị Tòa án nhân dân quận Tân P xử phạt 03 năm tù giam về tội Cố ý gây thương tích. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/08/2013.

- Tiền án: Ngày 01/08/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 04 năm tù giam về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/04/2020.

- Tiền sự: Không có

Bị bắt giam từ ngày: 21/09/2020- Có mặt.

Bị hại: Anh Phạm Duy A, sinh năm: 2001

Địa chỉ: 355 đường Cộng H, phường 13, quận Tân B, thành phố H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1970 và Nguyễn Thị G, sinh 1974(Vắng

mặt)

Địa chỉ: 170 E Tân Hòa Đ, Phường 14, Quận 6, Thành phố H.

Trang 1

2/ Bà Huỳnh Thị N, sinh năm: 1971- có mặt

Địa chỉ: 262/26/78G Lũy Bán B, phường Hòa T, quận Tân P, Thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:

Vào khoảng 08 giờ 15 phút ngày 19/09/2020, Võ Chí K điều khiển xe gắn máy hiệu SH Mode màu trắng nâu, biển số 59D2-726.29 lưu thông trên đường Thoại Ngọc H, phường Phú T, Quận Tân P, K phát hiện anh Phạm Duy A đi bộ trên lề đường, tay phải đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng nên nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của anh Duy A. K liền điều khiển xe gắn máy từ phía sau áp sát bên phải của anh Duy A và dùng tay trái giật được điện thoại di động trên rồi tăng ga tẩu thoát.

Sau đó K mang điện thoại di động vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại Xuân Hằng số 1217 đường 3 tháng 2, phường 6, Quận 11 do chị Nguyễn Thị G làm chủ và gặp anh Nguyễn Văn Q bán với giá 3.500.000 đồng. Số tiền này, K mua một điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen cùng thẻ sim mobifone có mã số 8401200252216078 hết 450.000 đồng, số tiền còn lại K đã làm mất.

Qua truy xét, Cơ quan điều tra Công an quận Tân P đã bắt được Võ Chí

K.

Tại Cơ quan Điều tra, Võ Chí Kđã thừa nhận hành vi phạm tội N trên.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 2043/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 21/10/2020 của Hội đồng định giá TTHS quận Tân P xác định 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS trị giá 10.000.000 đồng.

Vật chứng:

Thu giữ của chị Nguyễn Thị G:

- 01 điện thoại di động Iphone XS, số Imei: 356171091513068. Đây là điện thoại Võ Chí Kcướp giật được của anh Phạm Duy A. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân P đã trao trả lại cho anh Phạm Duy A.

Thu giữ của Võ Chí K:

- Một xe gắn máy hiệu Honda SH Mode biển số 59D2-726.29 số khung: RLHJF5146GZ134986, số máy: JF5150960109, K sử dụng đi cướp giật tài sản. Qua xác minh, xe trên do bà Huỳnh Thị N (mẹ ruột của K) thường trú tại 262/26/78G Lũy Bán Bích, phường Hòa Thạnh, quận Tân P, Thành phố Hđứng tên sở hữu. Ngày 19/09/2020 bà N để xe gắn máy ở nhà thì K tự ý lấy đi,bà N không biết K sử dụng xe trên đi Cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân P đã trả lại xe gắn máy trên cho bà Huỳnh Thị N.

- 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số imei: 357797062095666 và 01 sim điện thoại mạng Mobifone có dãy số +8401200252216078. K sử dụng tiền bán điện thoại cướp giật được để mua.

- 01 bộ quần áo gồm áo sơ mi tay ngắn sọc caro màu trắng đen và quần jeans ống dài mảu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đen. Là trang phục K mặc khi đi cướp giật tài sản.

Cơ quan CSĐT Công an quận Tân P đã nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 253/PNK ngày 25/09/2020

Trang 2

*Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Võ Chí Kđã bồi thường cho chị Nguyễn Thị G số tiền 3.500.000 đồng. Đối với anh Phạm Duy A đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân P giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm N nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng d, i Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Võ Chí Ktừ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản.

Bà Huỳnh Thị N không có yêu cầu gi chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho con.

- Bị cáo Võ Chí K thống nhất v ớ i tội danh và khung hình phạt N Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân P đã truy tố, không có oan sai, không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định N sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng N ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ (camera) và chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 19/09/2020, Võ Chí Kđã có hành vi điều khiển xe gắn máy Honda SH Mode, biển số 59D2-726.29 cướp giật điện thoại di động Iphone XS trị giá 10.000.000 đồng của anh Phạm Duy A tại trước số nhà 212 Thoại Ngọc H, phường Phú T, quận Tân P, Thành phố H.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Chí K phạm tội “Cướp giật tài sản”, do bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện để cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm, bị cáo K có tiền án chưa được xóa án tích (cụ thể Ngày 01/08/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 04 năm tù giam về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/04/2020) nay tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng là tái phạm nguy hiểm theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người

Trang 3

khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh. Lợi dụng sơ hở của người bị hại, công khai cướp giật, chiếm đoạt tài sản ngay trên đường giao thông, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

Về nhân thân:

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo K đã từng bị đưa ra xét xử về tội danh “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, và ngoài ra tài sản đã thu hồi, trả cho bị hại, cũng N gia đình bị cáo đã tự nguyện trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Gấm 3.500.000 đồng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự và vấn đề liên quan: Gia đình Võ Chí K đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị G số tiền 3.500.000 đồng. Đối với anh Phạm Duy A đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì khác, Tòa không xem xét thêm.

Về xử lý vật chứng.

+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda SH Mode số khung RLHJF5146GZ134986, số máy: JF51E0960109 mang biển số: 59D2-726.29

Qua xác minh, xe trên do bà Huỳnh Thị N (mẹ ruột của K) thường trú tại 262/26/78G Lũy Bán B, phường Hòa T, quận Tân P, Thành phố H đứng tên sở hữu. Ngày 19/09/2020 bà N để xe gắn máy ở nhà thì K tự ý lấy đi,bà N không biết K sử dụng xe trên đi Cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân P đã trả lại xe gắn máy trên cho bà Huỳnh Thị N. Nên Tòa không xem xét thêm.

+ 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Imei: 357797062095666, tại phiên tòa K khai bị mất hết tiền bán điện thoại 3.500.000 đồng, còn điện thoại Nokia là bị cáo mua, hơn nữa gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho ông Q và bà G, xét nên trả lại cho bị cáo.

+ 01 (một) sim điện thoại mạng Mobifone có dãy số 8401200252216078, xét do hư hỏng, xét nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 (một) bộ quần áo gồm áo sơ mi tay ngắn sọc caro màu trắng đen và quần jeans ống dài màu xanh, là trang phục K mặc đi Cướp giật tài sản, xét nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, xét nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố bị cáo Võ Chí K phạm tội:"Cướp giật tài sản"

Trang 4

- Áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Chí K05(năm) năm 06(sáu) tháng tù,

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 21 tháng 09 năm 2020.

[2] Áp dụng khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

- Trả cho Võ Chí K 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Imei: 357797062095666.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim điện thoại mạng Mobifone có dãy số 8401200252216078; 01 (một) bộ quần áo gồm áo sơ mi tay ngắn sọc caro màu trắng đen và quần jeans ống dài màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 253/PNK ngày 25 tháng 09 năm 2020 tại kho vật chứng Công an quận Tân P).

[3] Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Võ Chí K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Bị cáo, bà Huỳnh Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ