vanban.org

Bản án 34/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V phạm tội “Cướp gi t tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 22/5/2020. Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 22/5/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "34. Nguyễn Minh T và đp - 171 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V phạm tội “Cướp gi t tài sản”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HS-ST
Ngày 05 - 02 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thu Vân

2. Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2021 tại trụ s Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 232/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh T (tên gọi khác: Ch n Muối); sinh năm 1976 tại Thành phố H Ch Minh; nơi cư trú: 775/773 B.Đ Phường M Qu n T, Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà B Thị L (chết); có vợ là Hoàng Mai L và 01 con sinh năm 2007; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 28/11/2014 Tòa án nhân dân Qu n 6 Thành phố H Ch Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2019.

Nhân thân:

- Ngày 03/4/1996 Tòa án nhân dân Qu n 6 Thành phố H Ch Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản của công dân”. Chấp hành xong bản án ngày 13/11/1996.

- Ngày 06/02/1999 Tòa án nhân dân Qu n 5 Thành phố H Ch Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/7/2000. Chấp hành xong bản án ngày 19/9/2008.

- Ngày 18/5/2001 Tòa án nhân dân Thành phố H Ch Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/11/2006. Chấp hành xong bản án ngày 26/9/2012.

- Ngày 18/01/2008 Tòa án nhân dân Qu n 6, Thành phố H Ch Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 26/01/2011.

Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 22/5/2020 đến nay. (có mặt)

2. Hoàng Anh V; sinh năm 1975 tại Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: 4/40 L.L, phường L qu n N thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Như V và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Tô Mỹ N; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 14/11/2017 Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc. Ngày 29/4/2019 chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 16/9/2010 Tòa án nhân dân Qu n 1, Thành phố H Ch Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2012. Qua xác minh, Chi cục Thi hành án dân sự Qu n 1, Thành phố H Ch Minh chưa thụ lý thi hành đối với các quyết định khác của bản án (do chưa nh n được bản án).

Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 22/5/2020 đến nay. (có mặt)

Bị hại: Bà Nguyễn Thị X sinh năm: 1955; nơi cư trú: 691-693 B.Đ Phường B Qu n T Thành phố H Ch Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 20/5/2020, Hoàng Anh V điều khiển xe gắn máy biển số 69P1-2106 đến khu vực ngã ba đường T.L.V – B.H.B, Phường B Qu n T và gặp Nguyễn Minh T. Lúc này, T rủ V cùng đi tìm tài sản để chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên V điều khiển ch T đi trên các tuyến đường tìm tài sản khi đến đoạn đường B.Đ thuộc Phường B Qu n T (hướng từ cầu C về cầu Số 1 Phường A Qu n T), thì T phát hiện anh Phạm Minh Q (là tài xế xe ôm) đang điều khiển xe gắn máy ch bà Nguyễn Thị X ng i sau bà X để một chiếc túi xách hiệu Gucci trên đùi (bên trong túi có 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230 01 mắt k nh 01 v da 01 chai dầu xanh hiệu EAGLE BRAND 24ml 02 cây bút bi và số tiền 79.000 đ ng). Thấy v y T chỉ cho V nhìn và kêu V chạy bám theo xe bà X. Khi đến trước số 523 B.Đ Phường B Qu n T, V điều khiển xe vượt lên áp sát bà X, T ng i sau dùng tay gi t chiếc túi xách của bà X r i V tăng ga tẩu thoát. Bị chiếm đoạt tài sản bà X tri hô, anh Q ch bà X đuổi theo nhưng không kịp nên đến Công an Phường 13 Qu n 8 trình báo.

Sau khi gi t được tài sản và tẩu thoát trên đường đi do V chạy ch m nên T đưa chiếc túi xách cho V cầm, r i kêu V ng i sau để T ch . Khi cả hai chạy đến trước số 967 P.T.H Phường N Qu n T thì bị Trinh sát Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về tr t tự xã hội Công an Qu n 8 nghi vấn, phối hợp Tổ tuần tra Đội Cảnh sát giao thông Công an Qu n 8 kiểm tra đưa T và V cùng v t chứng về trụ s Công an Phường 5 Qu n 8 để làm rõ. Tại Công an phường, T và V khai nh n hành vi chiếm đoạt tài sản như trên. Vụ việc được l p h sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 điều tra làm rõ.

Ngày 24/8/2020 Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết lu n: Trị giá 01 chiếc túi xách hiệu Gucci là 200.000 đ ng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230 có giá là 500.000 đ ng 01 mắt k nh có giá là 120.000 đ ng 01 v da có giá là 30.000 đ ng 01 chai dầu xanh hiệu EAGLE BRAND 24ml có giá là 7.500 đ ng 02 cây bút bi có giá là 400 đ ng. Tổng trị giá các tài sản nói trên là 857.500 đ ng.

Ngày 21/5/2020 Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 kh i tố vụ án kh i tố bị can và sau đó bắt tạm giam đối với Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V để điều tra về tội “Cướp gi t tài sản”. Quá trình điều tra T và V khai nh n hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho bà Nguyễn Thị X đ ng thời bà X không yêu cầu các bị cáo b i thường thiệt hại. Mặt khác bà X cũng không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ xử lý v t chứng.

Xe gắn máy biển số 69P1-2106 qua điều tra xác minh do anh Tô H ng H đứng tên đăng ký và anh H cho chị ruột là bà Tô Mỹ N mượn. Ngày 20/5/2020, Hoàng Anh V (ch ng bà N) sử dụng xe làm phương tiện đi cướp gi t tài sản bà N và anh H không biết. Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại xe cho anh H. Đ ng thời anh H không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ xử lý v t chứng.

Tại bản Cáo trạng số 222/CT-VKS ngày 24/11/2020 Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Cướp gi t tài sản” theo các điểm d i khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Hoàng Anh V về tội “Cướp gi t tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V về tội “Cướp gi t tài sản”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị như sau:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng các điểm d i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 05 năm đến 07 năm tù; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hoàng Anh V từ 04 năm đến 05 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý v t chứng đã trả lại cho bị hại và chủ s hữu hợp pháp nên không xem xét giải quyết. Về trách nhiệm dân sự bị hại không có yêu cầu b i thường nên không đề c p giải quyết.

Các bị cáo không có ý kiến tranh lu n; các bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án xác định vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 20/5/2020, tại trước số 523 B.Đ Phường B Qu n T Thành phố H Ch Minh các bị cáo Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V có hành vi điều khiển xe gắn máy nhanh chóng, công khai chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị X 01 chiếc túi xách hiệu Gucci cùng các tài sản bên trong, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 936.500 đ ng, r i nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo đã kịp thời bị phát hiện và bị bắt giữ sau đó.

Các bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện phạm tội thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Xét bị cáo Nguyễn Minh T đã bị kết án 05 năm tù về tội “Cướp gi t tài sản” vào năm 2014 chưa được xóa án t ch mà lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này là thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.

Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp gi t tài sản” như sau:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

...

i) Tái phạm nguy hiểm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nhân được pháp lu t bảo vệ. Do đó Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp gi t tài sản” tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh T được quy định tại các điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Hoàng Anh V được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Về nhân thân bị cáo Nguyễn Minh T đã 04 lần bị Tòa án kết án phạt tù vào các năm 1996 1999 2001 2008; bị cáo Hoàng Anh V đã 01 lần bị Tòa án kết án phạt tù vào năm 2010 và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc vào năm 2017. Cho thấy các bị cáo có nhân thân xấu do đó khi lượng hình Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của các bị cáo.

Trong vụ án các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có t nh chất đ ng phạm nhưng mang t nh nhất thời giản đơn. Bị cáo T là người rủ rê và trực tiếp chiếm đoạt tài sản; bị cáo V là người điều khiển xe ch bị cáo T. Do đó, khi lượng hình Hội đ ng xét xử căn cứ Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt phù hợp với t nh chất vai trò từng bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản” là có cơ s

đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải tài sản đã thu h i trả lại cho bị hại thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Do đó, Hội đ ng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý v t chứng: Các tài sản do các bị cáo chiếm đoạt của bị hại g m: 01 chiếc túi xách hiệu Gucci 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230 01 mắt k nh 01 v da 01 chai dầu xanh hiệu EAGLE BRAND 24ml 02 cây bút bi và số tiền 79.000 đ ng đã được Cơ quan điều tra xử lý bằng hình thức trả lại cho bà X. Bà X không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ xử lý v t chứng nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Xe gắn máy biển số 69P1-2106 qua điều tra xác định là tài sản của anh Tô H ng H cho chị ruột là bà Tô Mỹ N mượn. Việc bị cáo Hoàng Anh V sử dụng xe làm phương tiện đi cướp gi t tài sản không liên quan đến bà N và anh H. Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 đã xử lý bằng hình thức trả xe trên cho anh H. Anh H không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ xử lý v t chứng nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V phạm tội “Cướp gi t tài sản”.

- Căn cứ vào các điểm d i khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 22/5/2020.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm h s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh V 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 22/5/2020.

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Minh T và Hoàng Anh V nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ