vanban.org

Bản án 34/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 26/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; 1. Về hình phạt: Xử phạt: Nguyễn Văn S 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Sơn trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------------------
Bản án số: 34/2021/HS-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ.

Ông Dƣơng Văn Xuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/HSST-QĐ ngày 11/3/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/HSST-QĐ ngày 25/3/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2021/HSST-QĐ ngày 08/4/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm 1987 tại Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Nguyễn Mạnh H (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S1; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Danh chỉ bản số 93 lập ngày 16/12/2020 của Công an huyện Sóc Sơn; Tiền sự, tiền án: Không có; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71 ngày 23/8/2011, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 08 tháng 19 ngày tù giam, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 17 tháng về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” đã thi hành xong tiền án phí ngày 20/2/2012; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30 ngày 27/4/2012, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 71 ngày 23/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên buộc bị cáo phải chấp hành 20 tháng 19 ngày tù giam, ngày 01/8/2012, thi hành xong tiền án phí theo bản án và ngày 30/9/2013, chấp hành xong án phạt tù (Bản án đã được xóa); Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01 ngày 29/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã có hiệu lực pháp luật); Tại Bản án sơ thẩm số 01 ngày 02/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã có hiệu lực pháp luật); Tại Bản án số 33 ngày 09/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 01 ngày 29/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và Bản án sơ thẩm số 01 ngày 02/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả ba bản án là 66 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2020 (Chưa có hiệu lực pháp luật); Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt. * Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 24/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Ngọc H1 (sinh năm 1995, trú tại: Xóm Đ, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) về việc: Ngày 15/10/2020, tại thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, anh H1 bị kẻ gian trộm cắp 01 xe máy, nhãn hiệu Honda Wave, Biển kiểm soát 20B2 - xxxxx. Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 15/10/2020, Nguyễn Văn S (sinh năm 1987, cư trú tại: Xóm T, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) đi xe buýt tuyến số 15 hướng Long Biên - Phố Nỷ, đến điểm cuối tại Phố Nỷ, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thì xuống xe. Sau đó, Sơn đi bộ theo đường Quốc lộ 3 hướng đi Hà Nội - Thái Nguyên để bắt xe về Thái Nguyên và nhìn thấy trước cửa hàng máy nổ M thuộc địa phận thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội có 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - đen - bạc, Biển kiểm soát 20B2 - xxxxx đang dựng trước cửa, đầu xe hướng vào trong cửa hàng, đuôi xe hướng ra ngoài đường, chìa khóa xe vẫn đang cắm ở ổ khóa điện nên S đã nảy sinh ý định trộm cắp xe máy. S quan sát xung quanh không có ai nên đã ngồi lên xe mở khóa điện, nổ máy điều khiển xe đi về nhà chị gái là chị Nguyễn Thị H2 (ở địa chỉ: Phố H, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) nhưng chị H2 không có nhà. Tại đây, S tháo Biển kiểm soát xe máy và giấu vào cốp xe rồi đi vào trong nhà thì bị Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đến kiểm tra, phát hiện nghi vấn nên đã tạm giữ xe máy và đưa S về trụ sở cơ quan Công an để làm rõ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đồng Hỷ, Sơn đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đồng Hỷ đã bàn giao xe tang vật kèm theo tài liệu cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 209/KL-HĐ ngày 23/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Sóc Sơn kết luận 01 xe máy Biển kiểm soát 20B2 - xxxxx tại thời điểm bị trộm cắp trị giá 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng).

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, xác định chủ sở hữu của 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - đen - bạc, Biển kiểm soát 20B2 - xxxxx là anh Nguyễn Ngọc H1 (sinh năm 1995, cư trú tại: Xóm Đ, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). Ngày 02/2/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Sóc Sơn ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy cho anh Nguyễn Ngọc H1.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Ngọc H1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S còn khai nhận: Khoảng đầu tháng 10 năm 2020, tại khu vực chợ Sóc Sơn thuộc thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Sơn đã trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, không nhớ Biển kiểm soát xe, không biết ai là chủ sở hữu xe máy. Sau khi trộm cắp được, Sơn đi xe máy xuống khu vực điểm trung chuyển xe buýt Long Biên, thành phố Hà Nội nhờ đối tượng tên H3 bán xe giúp được 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát và thông báo tại địa phương để tìm kiếm bị hại và tiến hành rà soát tang vật nhưng không có tổ chức, cá nhân nào cung cấp thông tin để tiếp tục điều tra làm rõ. Đối với đối tượng H3, Sơn không nói cho H3 biết nguồn gốc chiếc xe máy là do trộm cắp mà có, Sơn không biết H3 bán xe cho ai. Mặt khác, S không biết họ tên, địa chỉ của H3 nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ.

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Sơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 08/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử phạt: Nguyễn Văn S từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1]. Về tố tụng: 1.1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. 1.2. Về sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Trong quá trình điều tra, anh Nguyễn Ngọc H1 đã có lời khai đầy đủ, nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh H1 theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 15/10/2020, tại thôn Sông Công, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn S đã lén lút trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, Biển kiểm soát 20B2 - xxxxx của anh Nguyễn Ngọc H1, trị giá tài sản trộm cắp 16.200.000 đồng (Mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, nội dung điều luật quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là tội phạm nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị xử lý về hình sự, cụ thể:

Ngày 23/8/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 08 tháng 19 ngày tù giam, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 17 tháng về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 27/4/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 29/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 02/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 09/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù bị cáo phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị xử lý hình sự vẫn không có ý thức sửa đổi nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị có phù hợp với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [5]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xử xử không phải đặt ra xem xét, giải quyết. [6]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Điều 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; 1. Về hình phạt: Xử phạt: Nguyễn Văn S 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. 2. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. 3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ