- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bích V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2021/HS-ST Ngày 24-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duẩn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tiếp và bà Lê Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh và ông Ngô Thanh Hiển – Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST – HS ngày 10/9/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị Bích V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27 tháng 9 năm 1991 tại Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố TĐ 2, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Buôn bán; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/05/2019, Công an huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua thắng thua bằng tiền; con ông: Võ Ngọc S, con bà: Lê Thị Bích L; có chồng: Huỳnh Tấn N, sinh năm 1988; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015. Ngày 25/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đức Phổ ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Phạm Đình L1 – sinh năm 1992
Nơi cư trú: Tổ dân phố LV, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
2/ Anh Hồ Ngọc S – sinh năm 1993
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
3/ Bà Võ Thị Đ– sinh năm 1958
Nơi cư trú: Tổ dân phố LV, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
4/ Anh Hà Tấn H1 – sinh năm 1998
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
5/ Anh Nguyễn Thành S2 – sinh năm 2000
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
6/ Chị Nguyễn Thị Bích Q – sinh năm 1991
Nơi cư trú: Tổ dân phố LT 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
7/ Chị Trần Thị Đ1, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
8/ Anh Võ Tấn T1, sinh năm 1996
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
* Người làm chứng:
1/ Chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 2, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
2/ Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Tổ dân phố TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
3/ Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Tổ dân phố LV, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
4/ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966
Nơi cư trú: Tổ dân phố LT1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 01/2021, Phạm Đình L1 (tên gọi khác là N), trú tại Tổ dân phố LV, phường P, thị xã Đức Phổ, sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin cho Võ Thị Bích V hỏi có chỗ nào bán pháo không để mua về đốt trong dịp tết nguyên đán. Sau đó, V gọi cho một người phụ nữ tên Ln (chưa rõ nhân thân và lai lịch) đặt mua 10 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống (trong đó V mua cho L1 5 hộp, V 05 hộp), với giá 3.000.000 đồng; V lấy số điện thoại của L1 0974380004 nhắn tin cho Ln để L1 nhận pháo khi Ln gửi. Nhưng tối ngày 25/01/2021, L1 điện thoại cho V nói không mua pháo nữa vì sợ bị phát hiện xử lý, V đồng ý. V điện thoại cho Ln thì Ln nói đã có pháo và gửi cho xe, sáng ngày 26/01/2021 sẽ giao hàng. Lúc này V vẫn nhận 10 hộp pháo đã đặt mua về cất giấu để sử dụng trong dịp tết nguyên đán; V nói cho Ln biết địa điểm để giao nhận hàng tại ngã 3 Cây Xoài thuộc tổ dân phố LT 1, phường P. Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 26/01/2021, V điều khiển xe mô tô 76H1 – 10376 đến ngã 3 Cây Xoài để nhận hàng, nhưng thấy nhiều người tập trung tại đây, sợ bị phát hiện nên V đến quán gần đó ngồi uống nước. V gọi điện thoại nhờ Hồ Ngọc S đến chở giúp thùng pháo, nhưng S đang ở thành phố Hồ Chí Minh; do sợ bị phát hiện nên V đi về nhà, sau đó V lên Phổ Cường chơi và tìm cách vận chuyển thùng pháo về nhà. V gọi điện thoại thuê bà Võ Thị Đ chở thùng hàng từ ngã 3 Cây Xoài về Trường mầm non LT 1 với giá 50.000 đồng; sau đó, V gọi điện thoại nhờ Nguyễn Thị Bích Q chở thùng hàng về để ở nhà văn hóa TĐ 1; V tiếp tục gọi điện thoại cho Hồ Ngọc S nhờ người khác chở thùng hàng về nhà (tất cả việc V thuê và nhờ người chở thùng hàng V không nói rõ là hàng gì). S điện thoại nhờ Hà Tấn H1 đến nhà văn hóa chở giúp thùng hàng, sau đó H1 nhờ Nguyễn Thành S2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76H1 – 31277 đi cùng H1 đến nhà văn hóa để chở thùng hàng. Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 26/01/2021, Hà Tấn H1 và Nguyễn Thành S2 đang chở thùng hàng có chứa pháo đi trên đường thì tổ tuần tra kiểm soát của Đồn Biên phòng SH phối hợp với Công an phường P kiểm tra phát hiện bên trong thùng xốp có chứa 10 hộp giấy màu tím, kích thước (16,5 x16,5 x10)cm, trên hộp có in chữ “RICH FLOWER”, bên trong mỗi hộp có 49 ống giấy cao 10cm, đường kính 02cm, với tổng khối lượng 17,5kg. Tổ tuần tra lập biên bản vụ việc, thu giữ, niêm phong số pháo cùng các đồ vật có liên quan. Sau đó chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ giải quyết theo thẩm quyền.
* Quá trình điều tra thu giữ:
- 10 hộp pháo tổng khối lượng 17,5kg pháo hoa nổ và 01 thùng xốp màu vàng dùng để chứa pháo;
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 76H1 – 312.77 do ông Võ Tấn TT đứng tên chủ sở hữu (Nguyễn Thành S2 sử dụng chở thùng xốp không biết bên trong có chứa pháo);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Viettel, màu đỏ, bàn phím màu đen, kèm theo thẻ sim của Võ Thị Bích V;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh nước biển, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Trần Thị Đ1;
- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng Gold, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Hà Tấn H1;
- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Nguyễn Thành S2;
- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng Gold, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Hồ Ngọc S;
- 01 điện thoại di động màu bạc, mặt sau của điện thoại có in dòng chữ IPHONE, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Phạm Đình L1;
- 01 tờ giấy vở học sinh có nội dung lời khai do Võ Thị Bích V ghi đưa cho Phạm Đình L1 khai trước cơ quan điều tra;
Tại bản kết luận số 171/KLGĐ-PC09 ngày 26/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận 10 hộp giấy có khối lượng 17,5kg gửi giám định là pháo hoa nổ, được quy định điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định số 137/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng pháo.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT– VKS- ĐP ngày 25/08/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo Võ Thị Bích V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị:
Căn cứ điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 191, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị Bích V từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung bị cáo Võ Thị Bích V từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho ông Võ Tấn TT 01 xe mô tô biển kiểm soát 76H1 – 31277; trả lại cho bà Trần Thị Đ1 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh nước biển, bên trong có gắn 01 thẻ sim; trả lại cho Hà Tấn H1 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng Gold, bên trong có gắn 01 thẻ sim; trả lại cho Nguyễn Thành S2 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng, bên trong có gắn 01 thẻ sim; trả lại cho Hồ Ngọc S 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng Gold, bên trong có gắn 01 thẻ sim; trả lại cho Phạm Đình L1 01 điện thoại di động màu bạc, mặt sau của điện thoại có in dòng chữ IPHONE, bên trong có gắn 01 thẻ sim;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của Võ Thị Bích V 01 (một) điện thoại di động hiệu Viettel, màu đỏ, bàn phím màu đen, kèm theo thẻ sim;
- Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp màu vàng (mặt trên thùng và đáy thùng màu trắng) có kích thước (43x36x34)cm, 01 góc mặt trên thùng bị gãy rời dính với mặt thùng bằng keo dán.
- Tịch thu tiêu hủy 16,3 kg pháo hoa nổ sau giám định còn lại;
- Buộc bị cáo Võ Thị Bích V nộp lại số tiền 3.000.000 đồng dùng vào việc phạm tội sung ngân sách Nhà nước.
* Đối với Phạm Đình L1 (tên gọi khác là N) ban đầu hỏi V để nhờ mua pháo về sử dụng, nhưng L1 chưa đưa tiền, sau đó nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng pháo là vi phạm pháp luật, nên đã báo lại cho V không mua pháo nữa, hành vi của L1 tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L1 là có căn cứ.
* Đối với Hồ Ngọc S, Võ Thị Đ, Nguyễn Thị Bích Q, Hà Tấn H1, Nguyễn Thành S2 vì ngay tình đã giúp V chở thùng xốp chứa pháo hoa nổ, nhưng không biết bên trong có chứa pháo hoa nổ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người trên là có căn cứ.
* Đối với người có tên “Ln” V đặt mua pháo, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Thị Bích V, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Khoảng giữa tháng 01/2021, V gọi cho một người phụ nữ tên Ln (chưa rõ nhân thân và lai lịch) đặt mua 10 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống mục đích về cất giấu để sử dụng trong dịp tết nguyên đán, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự;
Tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Võ Thị Bích V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức điều khiển được hành vi của mình, biết tàng trữ pháo nổ là hàng cấm, vi phạm pháp luật. Dù trước khi Nghị định số 137/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định các hành vi bị nghiêm cấm về quản lý, sử dụng pháo có hiệu lực thi hành thì chính quyền thị xã Đức Phổ đã thường xuyên tổ chức tuyên truyền trên sóng phát thanh của thị xã Đức Phổ cũng như phường P; ngoài ra trước đó ngày 12/01/2021, Đồn biên phòng SHđã phát hiện xử lý hành vi tràng trữ pháo của bà Lê Thị Bích L (là mẹ của bị cáo), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà ngày 26/01/2021, bị cáo đặt mua 17,5kg pháo hoa nổ nhờ người khác vận chuyển đem về nhà mục đích cất giấu tàng trữ để sử dụng vào dịp tết nguyên đán. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự, việc phòng chống cháy nổ tại địa phương; vi phạm khoản 1 Điều 3 Nghị định số 137/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định các hành vi bị nghiêm cấm về quản lý, sử dụng pháo; nhân thân của bị cáo ngày 22/05/2019, bị Công an huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua thắng thua bằng tiền. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải xử lý nghiêm bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong thời gian tại ngoại bị cáo hợp tác cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ phát hiện tội phạm và xử lý theo quy định của pháp luật, nên được áp dụng điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với Phạm Đình L1 (tên gọi khác là N) ban đầu hỏi V để nhờ mua pháo về sử dụng, nhưng L1 chưa đưa tiền, sau đó nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng pháo là vi phạm pháp luật, nên đã báo lại cho V không mua pháo nữa, hành vi của L1 tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L1 là có căn cứ.
Đối với Hồ Ngọc S, Võ Thị Đ, Nguyễn Thị Bích Q, Hà Tấn H1, Nguyễn Thành S2 vì ngay tình đã giúp V chở thùng xốp chứa pháo hoa nổ, nhưng không biết bên trong có chứa pháo hoa nổ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người trên là có căn cứ.
Đối với người có tên “Ln” V đặt mua pháo, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là có căn cứ.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng V đặt mua pháo nhưng chưa giao tiền cho Ln, đây là số tiền dùng vào việc phạm tội, nên buộc bị cáo Võ Thị Bích V nộp lại sung Ngân sách Nhà nước.
Về Xử lý vật chứng:
- Trả lại cho ông Võ Tấn TT, sinh năm 1994, HKTT: TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 01 xe mô tô biển kiểm soát 76H1 – 31277, nhãn hiệu HONDA – Vison, màu đen - đỏ;
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014456, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1; bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh nước biển, số Imei: 354185101646371, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số sê ri: 8984048000310824413 cho chị Trần Thị Đ1.
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014457, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1; bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu IPHONES, màu vàng gold, mặt trước màn hình bị vỡ, số Imei: 358608074290501, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có số sê ri: 8984048831003047641 cho anh Hà Tấn H1.
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014458, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1; bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu IPHONES, màu trắng, số Imei: 359402084601207, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số sê ri: 8984048000079152523 cho anh Nguyễn Thành S2.
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3A 046491, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên Nguyễn Thế A (giám định viên); bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONES, số sê ri: F2LXM246HFM4, số Imei: 35860807443564 và thẻ sim Viettel có dãy: 8984048000301705204 cho anh Hồ Ngọc S.
- Trả lại 01 bì thư dán kín đã niêm phong, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Phương Đg và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu IPHONES, màu bạc, số sê ri: F9CQK0WMG5QJ số Imei: 355878067065888 và thẻ sim Viettel số sê ri: 898404800001009056 gắn bên trong thân máy cho anh Phạm Đình L1.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của Võ Thị Bích V 01 (một) điện thoại di động hiệu Viettel, màu đỏ, bàn phím màu đen, số Imei 1: 356781095071879, số Imei 2: 356781095071887, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel số sê ri:8984048000046008946 được chứa trong 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014455, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1.
- Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp màu vàng (mặt trên thùng và đáy thùng màu trắng) có kích thước (43x36x34)cm, 01 góc mặt trên thùng bị gãy rời dính với mặt thung bằng keo dán.
- Giao cho Ban chỉ huy Quân sự thị xã Đức Phổ tiêu hủy 16,3kg pháo hoa nổ sau giám định hoàn trả lại. Hiện số pháo này đang nhập kho vũ khí – đạn của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2021 giữa người giao Trần Anh K1 – Điều tra viên Công an thị xã Đức Phổ, người nhận Phạm Ngọc Nn – Thủ kho vật chứng Đại đội kho vũ khí- đạn phòng kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Về án phí: Bị cáo Võ Thị Bích V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bích V phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Võ Thị Bích V 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Võ Thị Bích V cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung bị cáo Võ Thị Bích V 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho ông Võ Tấn TT, sinh năm 1994, HKTT: TĐ 1, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 01 xe mô tô biển kiểm soát 76H1 – 31277, nhãn hiệu HONDA – Vison, màu đen - đỏ;
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014456, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1; bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh nước biển, số Imei: 354185101646371, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số sê ri: 8984048000310824413 cho chị Trần Thị Đ1.
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014457, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1; bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu IPHONES, màu vàng gold, mặt trước màn hình bị vỡ, số Imei: 358608074290501, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có số sê ri: 8984048831003047641 cho anh Hà Tấn H1.
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014458, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1; bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu IPHONES, màu trắng, số Imei: 359402084601207, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel có dãy số sê ri: 8984048000079152523 cho anh Nguyễn Thành S2.
- Trả lại 01 túi niêm phong, mã số PS3A 046491, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên Nguyễn Thế A (giám định viên); bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONES, số sê ri: F2LXM246HFM4, số Imei: 35860807443564 và thẻ sim Viettel có dãy: 8984048000301705204 cho anh Hồ Ngọc S.
- Trả lại 01 bì thư dán kín đã niêm phong, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Phương Đg và đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, bên trong túi có chứa 01 điện thoại di động hiệu IPHONES, màu bạc, số sê ri: F9CQK0WMG5QJ số Imei: 355878067065888 và thẻ sim Viettel số sê ri: 898404800001009056 gắn bên trong thân máy cho anh Phạm Đình L1.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của Võ Thị Bích V 01 (một) điện thoại di động hiệu Viettel, màu đỏ, bàn phím màu đen, số Imei 1: 356781095071879, số Imei 2: 356781095071887, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Viettel số sê ri:8984048000046008946 được chứa trong 01 túi niêm phong, mã số PS3 2014455, được dán kín bằng keo dán niêm phong, trên túi có chữ ký, ghi tên của người giao là Nguyễn Phương Đg, người nhận là Trần Anh K1.
- Tịch thu tiêu hủy 01 thùng xốp màu vàng (mặt trên thùng và đáy thùng màu trắng) có kích thước (43x36x34)cm, 01 góc mặt trên thùng bị gãy rời dính với mặt thùng bằng keo dán.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23 tháng 9 năm 2021 giữa Công an thị xã Đức Phổ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ).
- Giao cho Ban chỉ huy Quân sự thị xã Đức Phổ tiêu hủy 16,3kg pháo hoa nổ sau giám định hoàn trả lại. Hiện số pháo này đang nhập kho vũ khí – đạn của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2021 giữa người giao Trần Anh K1 – Điều tra viên Công an thị xã Đức Phổ, người nhận Phạm Ngọc Nn – Thủ kho vật chứng Đại đội kho vũ khí- đạn phòng kỹ thuật Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi.
- Buộc bị cáo Võ Thị Bích V phải nộp lại số tiền 3.000.000 đồng dùng vào việc phạm tội sung ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Thị Bích V phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TX.Đức Phổ; - Cơ quan CSĐT Công an TX.Đức Phổ; - Cơ quan THAHS Công an TX.Đức Phổ; - Chi cục THADS TX.Đức Phổ; - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q.Ngãi; - Ban CHQS thị xã Đức Phổ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Duẩn |