- Tranh chấp gì? án hình sự — "S va L “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo S Adrơ ng, V Adrơ ng, Y B Adrơ ng, Y L Êban, Kpă N phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2021/HS - ST Ngày: 28 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mạnh.
2. Ông Y Ben Êban.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long - Kiểm sát viên
Ngày 28/5/2021 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh ĐăkLăk, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 32/2021/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2021. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2021/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: S Adrơ ng, tên gọi khác: Không
Sinh ngày 30 tháng 01 năm 1998; tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Êđê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông K, sinh năm 1977 và bà H drơ ng, sinh năm 1977; Tiền án: Không
Tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Ngày 15/9/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 147.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26 tháng 01 năm 2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: V Adrơ ng, tên gọi khác: Không
Sinh ngày 29 tháng 02 năm 1999; tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Êđê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông K, sinh năm 1977 và bà H drơ ng, sinh năm 1977;
Tiền án: 01 Tiền án về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 07/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố B tuyêt phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 15/3/2019 thì chấp hành xong án phạt tù về địa phương.
Tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Ngày 15/9/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 141.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26 tháng 01 năm 2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Kpă N, tên gọi khác: Không
Sinh ngày 06 tháng 5 năm 2000; tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Ja Rai; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y D (đã mất) và bà: Kpă H1 (Đã mất).
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24 tháng 01 năm 2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Y L Êban; Tên gọi khác: Y Thoang
Sinh năm 1983 tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Êđê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y D (đã mất) và bà H L Êban, sinh năm 1959; có vợ là H N Niê, sinh năm 1988. Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại tại Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Y B Adrơ ng; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 05 tháng 04 năm 2003 tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Êđê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y N2 Bkrông, sinh năm 1973 và bà: H D drơ ng, sinh năm 1969; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại tại Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
6. Đại diện hợp pháp cho bị cáo Y B Adrơ ng: Ông Y N2 Bkrông, sinh năm 1973 và bà H D Adrơ ng, sinh năm 1969 (bố m ruột của bị cáo). (đều có mặt)
Địa chỉ: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
7. Người bào chữa cho bị cáo Y Ban Adrơ ng:
Ông Trần Trung H – Trợ giúp viên pháp lý. (có mặt)
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk - 39 Lý Thường Kiệt, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk.
7. Bị hại: Anh Y X Niê, sinh năm 1994. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
2.4/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Y R Mlô, sinh năm 1995. (vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
- Anh Y D2 Niê, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn K, xã Cr, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
- Anh Y G yŭn, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
- Y S Adrơ ng, sinh ngày 20/9/2004. (có mặt)
Địa chỉ: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện hợp pháp cho người làm chứng Y S drỡng: Ông K và bà H drỡng. (bố m ruột) (đều có mặt)
Địa chỉ: Buôn J, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 30/8/2020, tại nhà chị H M Niê (sinh năm 1980) ở buôn Yông , xã EaDrơng có hai nhóm thanh niên đến ăn nhậu với nhau, nhóm thứ nhất có: S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, KPă N và Y S drơ ng (sinh ngày 20/9/2004, trú tại Buôn J, xã E, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk) đang ăn nhậu với nhau tại căn nhà xây; nhóm thứ hai có: Y R Mlô (sinh năm 1995), Y U yǔn (sinh năm 1999), Y D2 Niê (sinh năm 1996), Y W drơ ng (sinh năm 2001), Y X Niê (sinh năm 1994), Y G yǔn (sinh năm 1996) cùng trú tại Buôn Yông, xã Ea Drơng, huyện CưM’gar và Y E drơ ng (sinh năm 2003), Y D3 Niê (sinh năm 1996) cùng cư trú tại buôn Kna , xã CưM’gar, huyện CưM’gar, đang ăn nhậu với nhau tại căn nhà gỗ. Trong lúc đang ăn nhậu thì anh Y G có kể cho anh Y R sự việc có người ở nhóm S hỏi: “ i là đại ca buôn Yông?”. Sau khi nghe xong Y R đã đi đến căn nhà xây để gây gổ với nhóm của S, thấy S đang cầm điện thoại thì Y R đã giật điện thoại của S ném xuống nệm rồi dùng tay phải tát vào mặt của S một cái. Thấy vậy, chị H M liền chạy đến can ngăn và kéo anh Y R đi về lại căn nhà gỗ. Do bực tức vì bị đánh nên S đã rủ V, Y Ban, N, Y L, Y S cùng tham gia đánh lại nhóm của Y R thì tất cả đều đồng ý và cùng nhau đi lấy vỏ chai bia Sagota và cây gậy. Trước khi đi đánh nhau thì S có nói với Y S dắt xe môtô ra cổng dựng sẵn trước để khi đánh nhau xong thì sẽ lên xe bỏ chạy. Sau đó, S cầm theo 02 vỏ chai bia, N cầm 04 vỏ chai bia, Y B cầm 02 vỏ chai bia, V cầm 01 khúc cây cao su và 01 vỏ chai bia cùng đi đến trước cửa căn nhà gỗ đánh nhóm anh Y R còn Y L cầm 02 vỏ chai bia cùng với Y S đi phía sau để dắt xe môtô (các đối tượng không nhớ biển số xe) ra ngoài đường chờ đồng bọn đánh nhau xong sẽ lên xe môtô bỏ chạy. Khi đến trước cửa căn nhà gỗ, S liền dùng tay phải ném chai bia trúng vào trán của anh Y R. Lúc này S thấy anh Y X ngồi gần cửa ra vào vừa đứng dậy thì S chuyển chai bia từ tay trái qua tay phải và cầm vào phần cổ chai bia đập theo hướng từ phải qua trái trúng vào má trái của anh Y X. Cùng lúc này, V đứng gần trụ cửa bên trái cũng dùng tay phải cầm cây cao su đánh 02 cái trúng vào phía sau đầu và lưng của anh Y G thì anh Y G bỏ chạy và nhặt 01 vỏ chai bia ném về phía sau trúng vào vùng trán của V. Tiếp đó, Y B và N liền dùng vỏ chai bia ném vào trong nhà thì trúng miệng anh Y Dân rồi cả nhóm chạy đến chỗ Y L và Y S đã chuẩn bị sẵn xe môtô để trước cổng nhà chị H M rồi lên xe nổ máy bỏ đi. Hậu quả, Y R và Y Dân bị xây sát nh nên không đi khám và điều trị ở cơ sở y tế nào, còn Y X bị thương tích ở má trái, được đưa đến Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên để điều trị đến ngày 15/9/2020 thì xuất viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 992/TgT-TTPY, ngày 30/9/2020, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Y X là 11%, thương tích do vật sắc, nhọn tác động trực tiếp hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Čư M’gar đã tạm giữ vật chứng: 03 vỏ chai bia (02 vỏ chai còn nguyên v n và 01 vỏ chai bị vỡ phần cổ chai) có dán nhãn hiệu bia S GOT , vỏ chai bằng thủy tinh màu nâu, loại chai dung tích 355ml cùng nhiều mảnh vỡ thủy tinh màu nâu
Về phần trách nhiệm dân sự: Các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y Ban drơ ng, Y L Êban đã bồi thường cho bị hại Y X Niê số tiền 28.000.000đồng
Cáo trạng số: 36/CT-VKS ngày 27/4/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar truy tố các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, KPă N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, KPă N như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nh đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, KPă N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo S drơ ng từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo V drơ ng từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo KPă N từ từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Y L Êban từ 21 tháng đến 24 tháng tù.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54; Điều 90; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Y B Adrơ ng từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 vỏ chai bia (02 vỏ chai còn nguyên v n và 01 vỏ chai bị vỡ phần cổ chai) có dán nhãn hiệu bia S GOT , vỏ chai bằng thủy tinh màu nâu, loại chai dung tích 355ml cùng nhiều mảnh vỡ thủy tinh màu nâu
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự:
Chấp nhận việc các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y L Êban, Y B drơ ng đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 28.000.000 đồng nên cần ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường trên.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối đáp tranh luận gì.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Y B drơ ng tranh luận: Về tội danh của bị cáo, trợ giúp viên không tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ quá trình phạm tội, nhân thân, lai lịch và nguyên tắc áp dụng hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội thì bị cáo Y B drơ ng có đầy đủ điều kiện để bị cáo chấp hành hình phạt và cải tạo tại địa phương mà không phải chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nh trách hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 90; khoản 1 Điều 101; khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 cho bị cáo Y B drơ ng được hưởng án treo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định độ tuổi của Y S drơ ng: Y S drơ ng sinh ngày 20/9/2004 nhưng đến ngày 21/3/2005 mới đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã EaTu, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 02/11/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện CưMgar đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 223 trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định độ tuổi của Y S drơ ng. Tại bản kết luận giám định pháp y độ tuổi số 1157/C09C(Đ5) ngày 13 tháng 11 năm 2020 của phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận “Căn cứ sự phát triển thể chất, sự cốt hóa của các xương tay, chân và khung chậu, khám chuyên khoa và xét nghiệm, xác định độ tuổi của Y S drơ ng tại thời điểm giám định (tháng 11 năm 2020) là: Từ 16 năm 06 tháng đến 16 năm 09 tháng.
Ngày 23/02/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện CưMgar đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định lại số 02 trưng cầu Phân viện pháp y Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh xác định độ tuổi của Y S drơ ng. Tại bản kết luận giám định pháp y độ tuổi số 10/21/ĐT ngày 01 tháng 03 năm 2021 của Phân viện pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận “Qua kết quả khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng, sự phát triển thể chất của cơ thể, sự mọc răng và đặc điểm cốt hóa của các đầu xương chưa liền vào thân xương, xác định Y S drơ ng có độ tuổi từ 16 năm 03 tháng đến 16 năm 09 tháng (tại thời điểm giám định ngày 23/02/2021).
Căn cứ khoản 2, 3 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 3 Điều 6 thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018, việc giám định lại tuổi của bị cáo Y S drơ ng là có căn cứ, tuổi của Y S drơ ng là 16 tuổi 03 tháng (tính tại thời điểm giám định tháng 02 năm 2021), nên ngày tháng năm sinh của bị cáo được xác định là ngày 01 tháng 11 năm 2004 và tuổi của bị cáo lúc thực hiện hành vi cùng các bị cáo khác ngày 30/8/2020 là 15 tuổi 09 tháng 29 ngày.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn với nhau trong lúc uống rượu tại nhà của chị H M Niê thuộc buôn Yông , xã Ea Drơng, huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk nên vào lúc 23 giờ ngày 30/8/2020: S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, KPă N đã có hành vi dùng vỏ chai bia S GOT gây thương tích cho anh Y X Niê với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11% thì bị phát hiện xử lý. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự
Tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nguời khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm;
b) ………………………………
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
…………
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Như vậy, cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 27/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, KPă N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị hại, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác đều bị xử lý, việc các bị cáo dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích cho anh Y X gây tổn hại 11% sức khỏe nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây tổn hại đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:
Xét đến vai trò của từng bị cáo trong vụ án cho thấy các bị cáo đồng phạm giản đơn, bị cáo S là người trực tiếp rủ rê và khởi xướng các bị cáo còn lại, bị cáo S là người trực tiếp cầm vỏ chai bia đánh vào anh Y X, ném vỏ chai bia trúng vào trán anh Y R, bị cáo có nhân thân xấu có 01 Tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Ngày 15/9/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 147. Mặc khác, bị cáo là người trực tiếp gây nên thương tích 11% cho bị hại anh Y X Niê nên hình phạt của bị cáo nặng hơn 04 bị cáo V drơ ng, Y B drơ ng, Kpă N và Y B drơ ng còn lại. Ngoài ra, bị cáo có hành vi rủ rê bị cáo Y B drơ ng thực hiện hành vi phạm tội khi bị cáo Y B drơ ng mới 17 tuổi 4 tháng 25 ngày nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS.
Đối với bị cáo V drơ ng có hành vi cầm cây cao su đánh 02 cái trúng vào phía sau đầu và lưng của anh Y G. Bị cáo có nhân thân xấu có 01 tiền án; Ngày 07/8/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk bị xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 15/3/2019 thì chấp hành xong án phạt tù về địa phương. Đến ngày 30/8/2020 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tính nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền sự chưa chấp hành xong. Ngày 15/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố B áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 141 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nên hình phạt của bị cáo V drơ ng nh hơn bị cáo S drơ ng nhưng nặng hơn bị cáo Y B drơ ng, Kpă N và Y L Êban là phù hợp.
Bị cáo Y B drơ ng và Kpă N có hành vi dùng vỏ chai bia ném vào trong nhà, còn bị cáo Y L không trực tiếp tham gia đánh nhau, có vai trò thứ yếu là chuẩn bị sẵn xe môtô để sau khi thực hiện hành vi xong thì cả bọn tháo chạy nên hình phạt của bị cáo Y B drơ ng, Kpă N nh hơn bị cáo S và V nhưng nặng hơn bị cáo Y L là phù hợp.
Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, KPă N và Y L Êban đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên cần áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và tình tiết giảm nh , tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã nhận định trên. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Đối với Y S drơ ng đã tham gia trong vụ án với vai trò giúp sức. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 30/8/2020, độ tuổi của Y S là 15 tuổi 09 tháng 29 ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự thì Y S Adrơ ng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar không đề cập xử lý là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Đối với Y R Mlô đã có hành vi dùng tay đánh S drơng; Y G Ayŭn đã có hành vi dùng 01 vỏ chai bia đánh V nhưng cả S và V đều không bị thương tích gì và S, V không yêu cầu bồi thường gì. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Y R và Y G là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015;
Công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban và bị hại anh Y X Niê. Các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban đã tự nguyện bồi thường số tiền 28.000.000đ cho bị hại anh Y X nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Đối với 03 vỏ chai bia (02 vỏ chai còn nguyên v n và 01 vỏ chai bị vỡ phần cổ chai) có dán nhãn hiệu bia S GOT , vỏ chai bằng thủy tinh màu nâu, loại chai dung tích 355ml cùng nhiều mảnh vỡ thủy tinh màu nâu là vật chứng và là hung khí của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban, Kpă N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo S Adrơ ng, V Adrơ ng, Y B Adrơ ng, Y L Êban, Kpă N phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo S Adrơ ng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26 tháng 01 năm 2021.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo V Adrơ ng 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26 tháng 01 năm 2021.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo KPă N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 24 tháng 01 năm 2021.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Y L Êban 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 90; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Y B Adrơ ng 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 03 vỏ chai bia (02 vỏ chai còn nguyên v n và 01 vỏ chai bị vỡ phần cổ chai) có dán nhãn hiệu bia S GOT , vỏ chai bằng thủy tinh màu nâu, loại chai dung tích 355ml cùng nhiều mảnh vỡ thủy tinh màu nâu (Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra – Công an huyện Cư Mgar và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưMgar ngày 27/4/2021).
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo S drơ ng, V drơ ng, Y B drơ ng, Y L Êban mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo KPă N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkLắk ; - VKSND tỉnh ĐắkLắk ; - Sở Tư pháp tỉnh ĐắkLắk ; - Vụ giám đốc kiểm tra I; - CA huyện; VKS huyện CưM’gar; - T.H.A Dân sự; T.H.A Hình sự ; - Bị cáo, bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền Diệu |