vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thanh N. Chị Hồ Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thanh N. Chị Hồ Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2021
V/v “Ly hôn, t/c nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quách Đình Hoằng.

2. Bà Trần Thị Ánh Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Dũng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 591/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thanh N. Sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Thôn 2, xã N, huyện Chư păh, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H. Sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Tổ 7, phường D, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/01/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho không khí gia đình căng thẳng. Mặc dù hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Do đó, tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Tôi và anh Nguyễn Văn H có hai con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Các con hiện đang ở với tôi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi yêu cầu anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng là 3.000.000đồng/02 con. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 01/5/2021 cho đến khi các con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được.

- Tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn H không đến Toà án để tham gia tố tụng. Do vậy, anh H không có lời khai tại hồ sơ vụ án và cũng không có lời khai tại phiên toà.

Tại phiên toà chị Hồ Thị Thanh N vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện của mình.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

- Nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử: chị Hồ Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con chung: giao 02 con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018 cho chị Hồ Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con: buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Ý, sinh ngày 20/12/2018 mỗi tháng là 3.000.000đồng/02 con. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 01/5/2021 cho đến khi các con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được. Về tài sản chung và nợ chung: chị N không yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ theo đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Thanh N và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn anh Nguyễn Văn H có địa chỉ tại tổ 7, phường D, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Thanh N và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường D, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/01/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Hồ Thị Thanh N trình bày thì vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, cho đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho không khí gia đình căng thẳng. Mặc dù hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Do đó, chị N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Xét thấy: mâu thuẫn giữa chị N và anh H trong quá trình chung sống đã xảy ra trong thời gian dài nhưng cả hai người không có biện pháp gì để cải thiện, vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau. Quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được.

Đối với anh H đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục để đến Tòa án tham gia tố tụng, trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị N nhưng anh H đều vắng mặt chứng tỏ anh H không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân với chị N hay không. Tại phiên toà chị N khẳng định không còn tình cảm yêu thương anh H, nên có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị N về việc ly hôn anh H là có căn cứ, được chấp nhận.

Về con chung: chị Hồ Thị Thanh N và anh Nguyễn Văn H có hai con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018. Ly hôn, chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời khai của chị N thì hiện nay chị và anh H đã sống ly thân, các con đều đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Cả 02 con chung của chị N và anh H đều là con gái và còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc từ người mẹ. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết văn bản tố tụng công khai tại nơi cư trú nhưng anh H vẫn vắng mặt và qua xác minh tại địa phương thì anh H thường xuyên đi làm vắng nhà, chỉ thỉnh thoảng mới về nên không thể xác định được nguyện vọng của anh H về vấn đề nuôi con chung. Nay ly hôn chị N vẫn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Ý, sinh ngày 20/12/2018 cho chị Hồ Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên, có khả năng lao động, tự lập được.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu của chị N về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018 mỗi tháng là 3.000.000đồng/02 con, mỗi con là 1.500.000đồng/tháng. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 01/5/2021 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh H phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, 8, 9,10; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thanh N. Chị Hồ Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2.Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là Nguyễn Hồ Thiên K, sinh ngày 13/5/2015 và Nguyễn Hồ Thiên Y, sinh ngày 20/12/2018 mỗi tháng là 3.000.000đồng/02 con, (mỗi con là 1.500.000đồng/tháng). Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 01/5/2021 cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: chị Hồ Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005464 ngày 02 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ