- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị A ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị A và anh Nguyễn Kinh K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST Ngày: 21-5-2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Ngọc Nga.
2. Bà Trần Thị Thu Thảo.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2021/TLST-HN ngày 02 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HN ngày 28 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-HN ngày 11 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Hà Thị A, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ 13, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh BT (có mặt).
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Kinh K, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp TT, xã THĐ, huyện TP, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hà Thị A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2001, chị và anh K được sự đồng ý của hai bên gia đình đã tổ chức lễ cưới đến năm 2007 đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1 (nay là thị xã PM), tỉnh BT cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41/07 ngày 04-4-2007. Sau khi kết hôn anh chị sống chung hạnh phúc, đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng trong công việc làm ăn, cách sinh hoạt trong gia đình và cách nuôi dạy con chung nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau mâu thuẫn ngày càng nhiều. Anh chị đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không giải quyết được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Kinh K.
Về nuôi con chung: Thời gian sống chung, vợ chồng có hai con chung Nguyễn Kim Th, sinh ngày 11-11-2002 và Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 08-7-2011. Hiện nay con chung Nguyễn Kim Th đã thành niên chị không yêu cầu giải quyết. Con chung Tuấn H đang sống cùng chị A, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Tuấn H.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
*Bị đơn Nguyễn Kinh K:
Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng anh K vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hà Thị A tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bị đơn anh Nguyễn Kinh K, địa chỉ: ấp TT, xã THĐ, huyện TP, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Kinh K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị A và anh Nguyễn Kinh K sống chung năm 2002 đến năm 2007 có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1 (nay là thị xã PM) cấp giấy chứng nhận kết hôn; quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh K là hôn nhân hợp pháp. Xét tình cảm giữa anh chị sống chung hạnh phúc được thời gian đầu đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị A là do bất đồng trong công việc làm ăn, cách sinh hoạt trong gia đình và cách nuôi dạy con chung nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau mâu thuẫn ngày càng nhiều. Anh chị đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không giải quyết được. Anh chị ly thân từ năm 2012 đến nay, thời gian ly thân anh chị không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau cũng như không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng anh K không đến tham dự cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của chị A, nay chị A xin ly hôn do không còn tình cảm với anh K, điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị A.
Về nuôi con chung: Quá trình sống chung, anh chị có hai con chung Nguyễn Kim Th, sinh ngày 11-11-2002 và Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 08-7-2011. Hiện nay con chung Nguyễn Kim Th đã thành niên chị không yêu cầu giải quyết. Con chung Tuấn H đang sống cùng chị A, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Tuấn H. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay con chung đang sống ổn định cùng chị A. Chị A có chỗ ở ổn định và đang làm công nhân có nguồn thu nhập có điều kiện để nuôi dưỡng con chung, nên cần thiết tiếp tục giao con chung Nguyễn Tuấn H cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống cho con chung. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A, giao con chung Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 08-7-2011 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hà Thị A phải chịu án phí HNST theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56. Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị A và anh Nguyễn Kinh K.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 08-7-2011 cho chị Hà Thị A trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Kinh K được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Kinh K chưa phải đóng góp nuôi con chung do chị Hà Thị A chưa có yêu cầu.
3.Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4.Về án phí: Chị Hà Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí HNST được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 20910 ngày 26-02-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị A đã nộp đủ án phí HNST.
5.Quyền kháng cáo: Chị A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tiền Giang; -VKSND huyện Tân Phước; -Chi cục THADS huyện Tân Phước; -Các đương sự; -UBND xã T, thị xã PM, tỉnh BT; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Thuyền |