vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Giáp Thị Hà Nh

Về hôn nhân: Giáp Thị Hà Nh được ly hôn với Trần Hoàng A. Về con chung và cấp dưỡng: Trần Hoàng A được quyền tiếp tục nuôi con chung là Trần Hoàng T, sinh ngày 10/01/2016. Hiện cháu T đang sống với anh Hoàng A. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Giáp Thị Hà Nh
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2021
“V/v ly hôn và tranh chấp nuôi
con, cấp dưỡng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Công.

2. Ông Đặng Văn Hai.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Vân An - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 13 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2021/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2021 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Giáp Thị Hà Nh, sinh năm 1997, địa chỉ: Số nhà 734/3, ấp Tân Phú, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: 501A/4, ấp Tân Qúi, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

- Bị đơn: Trần Hoàng A, sinh năm 1988, địa chỉ : Số nhà 734/3, ấp Tân Phú, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 01/02/2021 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Giáp Thị Hà Nh trình bày:

Nhờ mai mối nên chị Nh và anh Trần Hoàng A biết nhau và đi đến cuộc sống hôn nhân vào năm 2015. Chị Nh và anh Hoàng A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phước, huyện Lai Vung vào ngày 26/8/2015. Do hôn nhân đến từ việc mai mối mà không tìm hiểu trước khi đi đến cuộc sống hôn nhân, nên trong quá trình sống chung có rất Nhều điểm bất đồng mà không thể hòa giải, bản tính anh Hoàng A rất gia trưởng, việc gì cũng tự quyết định mà không xem đến ý kiến của chị Nh; những khi chị Nh muốn nói lên ý của mình thì xảy ra cải vả. Mỗi khi cải nhau thì bản tính anh Hoàng A rất nóng nảy luôn dùng những lời lẻ hăm dọa sẽ giết chết, làm cho cuộc sống của chị Nh lúc nào cũng sống trong lo sợ. Suốt hơn 05 năm chung sống chưa bao giờ chị có được hạnh phúc gia đình trọn vẹn. Bên cạnh đó cuộc sống với gia đình bên chồng chị lại không được lòng ba mẹ chồng, luôn luôn có những mâu thuẩn giữa ba mẹ chồng và chị. Đỉnh điểm của những mâu thuẩn là cuối năm 2020 đầu năm 2021 giữa chị Nh với anh Hoàng A xảy ra mâu thuẩn cha mẹ chồng không can ngăn mà còn dùng lời lẽ khó nghe đối với chị và gia đình chị, mẹ chồng bảo rằng chị Nh ly hôn với Hoàng A thì chỉ có đi làm gái mà sống. Cảm thấy cuộc hôn nhân này không thể cứu vãn nữa nên chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ đó đến nay. Giáp Thị Hà Nh yêu cầu được ly hôn với Trần Hoàng A.

Chị Nh và anh Hoàng A có 01 con chung là Trần Hoàng T, sinh ngày 10/01/2016 hiện đang sống với anh Hoàng A. Giáp Thị Hà Nh đồng ý Trần Hoàng A được tiếp tục nuôi con, chị Nh không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Giáp Thị Hà Nh không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn Trần Hoàng A có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:

Những lời trình bày của chị Nh về thời gian quen biết và đăng ký kết hôn là đúng. Trong quá trình sống chung thì giữa anh và chị Nh có lời qua tiếng lại tuy Nhên đấy chỉ là việc nhỏ nhặt hàng ngày cự cải rồi thôi bỏ qua chứ không có mâu thuẩn gì trầm trọng. Những lúc nóng giận thì anh Hoàng A có dùng lời nói đe dọa tuy Nhên chỉ nói vậy thôi chứ thật lòng anh còn thương vợ thương con không đồng ý ly hôn. Hoàng A muốn có 01 cơ hội để thay đổi, chăm sóc cho vợ con. Trần Hoàng A không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Hoàng T, sinh ngày 10/01/2016 hiện đang sống với anh; nếu Tòa cho ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Trần Hoàng A không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Giáp Thị Hà Nh có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng; giữa Giáp Thị Hà Nh với Trần Hoàng A và bị đơn anh Hoàng A có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành thủ tục tố tụng và thu thập các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là đúng trình tự thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hôn nhân: Giáp Thị Hà Nh và anh Trần Hoàng A chung sống với nhau từ năm 2015 có đăng ký kết hôn vào ngày 26/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, là theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của chị Nh và anh Hoàng A là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được pháp luật bảo vệ.

Chị Nh và anh Hoàng A có quá Nhều mâu thuẩn không thể nào tìm được tiếng nói chung. Nguyên nhân từ việc hôn nhân thông qua việc mai mối mà không có thời gian tìm hiểu lẫn nhau. Từ đó cuộc sống hôn nhân luôn có những bất đồng mà không thể hàn gắn. Tính của anh Hoàng A lại gia trưởng, không xem trọng ý kiến của chị Nh. Bên cạnh đó cuộc sống với gia đình bên chồng chị Nh lại không được lòng ba mẹ chồng, luôn luôn có những mâu thuẩn giữa ba mẹ chồng với chị Nh. Vợ chồng ly thân từ đầu năm 2021 trong thời gian ly thân thì anh Hoàng A cũng có đến yêu cầu chị về sống chung nhưng chị cho rằng tình cảm giữa chị và anh Hoàng A không còn, có miễn cưỡng chung sống cũng sẽ không mang lại hạnh phúc, chị Nh nhất quyết yêu cầu được ly hôn. Còn anh Hoàng A cho rằng còn thương vợ con, nhưng anh Hoàng A không làm được lòng chị Nhị về đoàn tụ. Mặc dù, Hội đồng xét xử đã động viên nhưng Giáp Thị Hà Nh vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với Trần Hoàng A, mâu thuẫn của chị Nh và anh Hoàng A là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc Giáp Thị Hà Nh yêu cầu ly hôn là thỏa mãn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nh là có căn cứ.

Về con chung và cấp dưỡng: Chị Nh và anh Hoàng A thống nhất con chung là anh Hoàng A được tiếp tục nuôi Trần Hoàng T, sinh ngày 10/01/2016, nên cần công nhận sự thỏa thuận giữa chị Giáp Thị Hà Nh và anh Trần Hoàng A về con chung là giao con chung Trần Hoàng T, sinh ngày 10/01/2016 cho anh Trần Hoàng A nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Giáp Thị Hà Nh không trực tiếp nuôi con, đáng lý ra thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Trần Hoàng A không yêu Giáp Thị Hà Nh cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nh và anh Hoàng A xác định không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; thì nguyên đơn chị Giáp Thị Hà Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Giáp Thị Hà Nh

1. Về hôn nhân: Giáp Thị Hà Nh được ly hôn với Trần Hoàng A.

2. Về con chung và cấp dưỡng: Trần Hoàng A được quyền tiếp tục nuôi con chung là Trần Hoàng T, sinh ngày 10/01/2016. Hiện cháu T đang sống với anh Hoàng A.

Trần Hoàng A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Giáp Thị Hà Nh trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí, tạm ứng án phí:

Giáp Thị Hà Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010799, ngày 17/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung (chị Nh đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (13/5/2021).

Cỡ chữ