vanban.org

Bản án 34/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nông Dương Minh - Hoàng Thị Đông"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!BẢO!THẮNG!
TỈNH!LÀO!CAI!
!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2021/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 6 - 2021
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BẢO!THẮNG!

!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lìn Thị Lài."

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Trần Thị Thu Hương.

2. Bà Hoàng Thị Bích Phượng.

Thư" ký" phiên" toà: Ông Ngô Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn:"Anh"Nông Dương M - Sinh năm 1972.

Địa chỉ: Thôn Đo Ngoài, xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng, Lào Cai - Có mặt. "

2."Bị"đơn:"Chị Hoàng Thị Đông - Sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn Cán Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, Lào Cai - Có mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2021 và bản tự khai ngày 03/6/2021 cũng như tại phiên tòa, anh Nông Dương M trình bầy: Anh và chị Hoàng Thị Đông tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 13/4/2015, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống không có hạnh phúc nên anh và chị Đông không đi đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống xuất phát từ đó tình cảm bị rạn nứt; anh chị sống với nhau đến tháng 6 năm 2018 thì ly thân, chị Đông về thôn Cán Hồ, xã Phong Niên ở từ đó anh chị không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Hoàng Thị Đông.

Về!con!chung: Quá trình chung sống anh và chị Đông có một con chung là cháu Nông Dương Vũ, sinh ngày 25/3/2017, hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng chị Đông, khi ly hôn anh có nguyện vọng để chị Đông trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho cháu Vũ 1.000.000đồng/tháng.

Về!tài!sản!chung!và!công!nợ!chung:!Quá trình chung sống anh và chị Đông không có tài sản chung, không có công nợ chung, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của chị Hoàng Thị Đông (Bị đơn) ghi ngày 07/6/2021 chị Đông trình bày: Chị và anh Nông Dương M tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 13/4/2015, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống không có hạnh phúc nên chị và anh Minh không đi đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống xuất phát từ đó tình cảm bị rạn nứt; anh chị sống với nhau đến tháng 6 năm 2018 thì ly thân, chị về thôn Cán Hồ, xã Phong Niên ở từ đó không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Minh xin ly hôn với chị, quan điểm của chị nhất trí ly hôn với anh Minh.

Về!con!chung: Quá trình chung sống chị và anh Minh có một con chung là cháu Nông Dương Vũ, sinh ngày 25/3/2017, hiện nay cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng chị, khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ, chị yêu cầu anh Minh cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho cháu Vũ 1.000.000đồng/tháng.

Về!tài!sản!chung!và!công!nợ!chung:!Quá trình chung sống chị và anh Minh không có tài sản chung không có công nợ chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. !

Đối với vụ án này Toà án không hòa giải về quan hệ hôn nhân, vì đương sự không đăng ký kết hôn; Tòa án đã hòa giải về việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung thì các đương sự đã thỏa thuận được với nhau.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nông Dương M khởi kiện xin ly hôn với chị Hoàng Thị Đông đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, anh Minh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đo Ngoài, xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng; chị Đông có đăng ký hộ khẩu tại thôn Cán Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Dương M và chị Hoàng Thị Đông tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 13/4/2015, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống không có hạnh phúc nên chị và anh Minh không đi đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống xuất phát từ đó tình cảm bị rạn nứt; anh chị sống với nhau đến tháng 6 năm 2018 thì ly thân, chị về thôn Cán Hồ, xã Phong Niên ở từ đó không quan tâm đến nhau. Tại phiên tòa hôm nay anh Minh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị Đông. Đối với chị Hoàng Thị Đông tại phiên tòa hôm nay chị cũng nhất trí ly hôn với anh Minh, vì tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử xét thấy việc chung sống của anh chị là bất hợp pháp, nên không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì vậy xét yêu cầu ly hôn của anh Minh Hội đồng xét xử không chấp nhận được mà Hội đồng xét xử cần tuyên bố không công nhận anh Nông Dương M và chị Hoàng Thị Đông là vợ chồng, là có căn cứ phù hợp với Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Anh Nông Dương Minh và chị Hoàng Thị Đông có 01 con chung cháu Nông Dương Vũ, sinh ngày 25/3/2017.

Tại phiên tòa hôm nay anh Nông Dương M và chị Hoàng Thị Đông thỏa thuận để chị Đông trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nông Dương Vũ, anh Minh có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho cháu Vũ 1.000.000đồng/tháng.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Minh và chị Đông cung cấp chứng cứ chứng cứ chứng minh anh chị đều làm nghề tự do thu nhập bình quân mỗi người là 4.000.000đồng/tháng được chính quyền địa phương xác nhận; Vì vậy Hội đồng xét xử cần công nhận sự thỏa thuận của anh chị về con để chị Đông trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nông Dương Vũ, anh Minh có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho cháu Vũ là 1.000.000đồng là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình chung sống anh Minh, chị Đông không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Anh Nông Dương M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 điều 14, Khoản 2 Điều 53; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nông Dương M và chị Hoàng Thị Đông.

2. Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của anh chị về con như sau:

Chị Hoàng Thị Đông trục tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nông Dương Vũ, sinh ngày 25/3/2017, anh Nông Dương M có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho cháu Vũ 1.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, anh Nông Dương M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được Thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con định kỳ, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Anh Nông Dương M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002562 ngày 03/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Anh Minh đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự; các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:" "

"

"""""""""""""""""""" TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- TAND tỉnh Lào Cai;

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

- VKSND huyện Bảo Thắng (2);

!

- THADS huyện Bảo Thắng (2);

!

- UBND xã Thái Niên;

!

- UBND xã Phong Niên;

!

- Đương sự (02);

!

- Lưu HS, TA, VP .

!

!

Lìn!Thị!Lài

Cỡ chữ