vanban.org

Bản án 34/2021/DSST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị L phải trả cho ông Nguyễn Vũ L số tiền là 347.000.000 (Ba trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Nguyễn Vũ L - Trần Thị L "Tranh chấp kiện đòi tài sản""
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Bộ luật Dân sự; Điều 115 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/DSST
Ngày 06 tháng 9 năm 2021
V/v: “Kiện đòi tài sản”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Yến và bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm Sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2020/TL-DSST ngày 03 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2021 và các quyết định hoãn phiên tòa.

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Vũ L, sinh năm 1950. (Có mặt)

HKTT: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1956.(Vắng mặt)

HKTT: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nơi tạm trú: Số 81, đường R, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn – Ông Nguyễn Vũ L trình bày:

Từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 12 năm 2015 ông L đã nhiều lần đưa tiền cho bà L để xin việc làm cho con và cháu ông. Khi đưa tiền bà L có viết giấy nhận tiền của ông L. Tổng số tiền ông L đã đưa cho bà L là 730.000.000 đồng. Sau đó, do không xin được việc nên ông L đã đòi lại số tiền trên nhưng bà L không trả. Do vậy ông L đã làm đơn tố cáo bà L ra Công an tỉnh Bắc Ninh. Đến năm 2017, quá trình cơ quan ANĐT Công an tỉnh Bắc Ninh giải quyết vụ án, bà L đã trả ông L số tiền 368.000.000 đồng, còn 362.000.000 đồng chưa trả. Việc trả tiền và chốt số tiền còn phải trả được các bên cùng xác nhận trong giấy biên nhận ngày 03/6/2017. Sau đó bà L có trả ông L 15.000.000 đồng nữa, khi nhận số tiền này ông L không viết giấy biên nhận. Tổng số tiền bà L đã trả ông L là 383.000.000 đồng. Đến nay bà L còn 347.000.000 đồng chưa trả ông L.

Do bà L thường xuyên vắng mặt ở nơi cư trú ở số nhà 81 đường R, phường V, thành phố Bắc Ninh nên ông đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú”. Ngày 20/5/2020 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã ra Quyết định số 04/2020/QĐST-DS về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Ngày 09/7/2020 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã có quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà Trần Thị L. Tuy nhiên đến nay bà L vẫn không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ việc.

Nay ông làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án buộc bà L phải trả ông số tiền 347.000.000 đồng. Ông không yêu cầu bà L phải trả tiền lãi.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa:

Tại phiên tòa, Nguyên đơn ông Nguyễn Vũ L giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà Trần Thị L phải có trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền 347.000.000 đồng. Về lãi suất ông L không yêu cầu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 105, 115, 158, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 227, 228, 254, 260, 262, 264, 267 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; Đề nghị HĐXX xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Trần Thị L phải thanh toán cho ông Nguyễn Vũ L số tiền là 347.000.000 đồng.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí DSST. Bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện:

Theo nội dung vụ án, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng “Kiện đòi tài sản” bị đơn có địa chỉ thường trú tại số nhà 81 đường R, phường V, thành phố Bắc Ninh. Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp Kiện đòi tài sản được quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 2 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 27/11/2020 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự và Điều 189, Điều 190 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án đã tiến hành triệu tập, niêm yết và thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bị đơn. Phía bị đơn là bà Trần Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và làm các thủ tục đúng theo quy định của BLTTDS nhưng bà L vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc không vì sự kiện bất khả kháng, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét các biên bản ghi lời khai của nguyên đơn và các giấy nhận tiền giữa ông L và bà L cùng các tài liệu thu thập tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh cùng các tài liệu do cơ quan ANĐT Công an tỉnh Bắc Ninh cung cấp, thể hiện rõ việc bà Trần Thị L có nhận tiền của ông Nguyễn Vũ L để xin việc. Tuy nhiên bà L không xin được việc khi ông L đòi tiền lại thì không trả nên ông L có làm đơn đến Công an tỉnh Bắc Ninh tố cáo bà L về hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản. Tại cơ quan Công an tỉnh Bắc Ninh bà L có thừa nhận đã nhận số tiền của ông L tổng số là 730.000.000đ nhưng chưa xin được việc. Sau khi Công an khởi tố vụ án thì bà L cùng gia đình đã trả cho ông L là 383.000.000đ nay còn nợ là 347.000.000đ. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông L, cần buộc bà Trần Thị L phải trả cho ông Nguyễn Vũ L số tiền 347.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 105, 115, 158,166 và 280 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 235, 239, 243, 260, 264, 266 và 267, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Buộc bà Trần Thị L phải trả cho ông Nguyễn Vũ L số tiền là 347.000.000 (Ba trăm bốn mươi bảy triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự: Bà Trần Thị L phải chịu đồng 17.350.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Bắc Ninh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSNDTP tỉnh Bắc Ninh; -VKSNDTP Bắc Ninh;

- Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ: Văn phòng.

Tạ Hữu Hiển

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Trung Viêm Văn Doãn

Nguyễn Thị Lan Hƣơng

Cỡ chữ