vanban.org

Bản án 34/2021/DSPT — Dân sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 21/06/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng"
  • Căn cứ chính? Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
---------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2021/DSPT
Ngày 21 tháng 6 năm 2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng sang nhượng tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Chí Trung Các Thẩm phán:

Ông Vũ Việt Dũng

Ông Trần Hoài Sơn

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Vỹ-Cán bộ TAND TP Đà Nẵng. -Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Ngô Văn Hùng-Kiểm sát viên, tham gia phiên tòa. Ngày 21 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2021/TLPT-DS ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng sang nhượng tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2021/DS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2021/QĐXXPT-DS ngày 03 tháng 6 năm 2021 giữa: -Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc S, sinh năm: 1979. Nơi đăng ký NKTT: Tổ X, phường Q, thành phố Đà Nẵng. -Bị đơn: Công ty TNHH N. Địa chỉ: X9 đường H, phường K, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T-Chủ tịch Hội đồng thành viên-Giám đốc. -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Tổ X, phường Q, thành phố Đà Nẵng.

XÉT THẤY

Ngày 24 tháng 5 năm 2021 tại phiên làm việc của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Quốc S, Công ty TNHH N và bà Nguyễn Thị M thống nhất thỏa thuận: -Công ty TNHH N trả cho ông Nguyễn Quốc S và bà Nguyễn Thị M, số tiền: 25.000.000đ. Công ty TNHH N sẽ chuyển trả vào tài khoản ông Nguyễn Quốc S ngày 05/6/2021. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Quốc S, đại diện Công ty TNHH N và bà Nguyễn Thị M không có ý kiến thay đổi nội dung thỏa thuận ngày 24 tháng 5 năm 2021. Ông Nguyễn Quốc S xác nhận là đã nhận số tiền 25.000.000đ, do Công ty TNHH N chuyển khoản vào ngày 05 tháng 6 năm 2021. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận giữa các đương sự. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận giữa các đương sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300 và Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. 1/ Sửa Bản án số: 03/2021/DS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Đà Nẵng. 1.1 Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Nguyễn Quốc S, đại diện Công ty TNHH N và bà Nguyễn Thị M như sau: Công ty TNHH N trả cho ông Nguyễn Quốc S và bà Nguyễn Thị M, số tiền: 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Số tiền này Công ty TNHH N đã chuyển khoản, trả cho ông Nguyễn Quốc S vào ngày 05/6/2021. 1.2 Án phí DSST: 1.250.000đ Công ty TNHH N tự nguyện chịu. 1.3 Hoàn cho ông Nguyễn Quốc S: 1.250.000đ tạm ứng án phí DSST (biên lai số: 0002169 ngày 20 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Đà Nẵng). 2/ Công ty TNHH N không chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn lại 300.000đ tạm ứng án phí DSPT (biên lai số: 0009074 ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Đà Nẵng). 3/ Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ