- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H(tên gọi khác: Mập) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƢƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HSST Ngày: 29/5/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƢƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-T Hnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Xuân Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu T Hnh và ông Trần Tấn Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020, đối với:
Bị cáo Huỳnh Văn H(tên gọi khác: Mập), sinh ngày 05/01/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ 14, khu vực T, phường T, t Hnh phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Chở gas; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Huỳnh Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1969; vợ con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2019 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn H: Bà Hồ Thị L- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý n H nước tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị Hạnh P, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn P, sinh năm 1989; địa chỉ: 199 B, phường P, t Hnh phố H. Vắng mặt.
Người làm chứng: Chị Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn A, xã Thủy B, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 04/11/2019, Huỳnh Văn H điều khiển xe mô mang Biển kiểm soát: 75F1- 438.04 (xe thuộc sở hữu của H), lưu thông trên đường Minh Mạng (Quốc lộ 49B) hướng từ cầu Tuần đến cầu Lim. Khi đến gần chùa Đức Sơn, thuộc thôn Cư Chánh 2, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, H phát hiện phía trước cùng chiều có chị Lê Thị Hạnh P đang điều khiển xe mô tô mang Biển kiểm soát 75F1-717.41, ở tay cầm bên trái của xe mô tô có treo một túi xách bằng vải, màu trắng. H nảy sinh ý định chiếm đoạt nên điều khiển xe mô tô vượt lên và áp sát bên trái xe của chị Phước, dùng tau phải giật lấy túi xách trên rồi nhanh chóng tẩu thoát về hướng cầu Lim. Sau khi chiếm đoạt được túi xách trên, H mở ra kiểm tra thấy bên trong túi xách có 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đỏ, ốp lưng điện thoại màu trắng đục và số tiền 1.850.000 đồng. H tháo 02 sim và ốp lưng điện thoại di động vất ở bên đường cùng chiếc túi xách, còn tiền và điện thoại cất giấu trong người.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H đưa điện thoại Oppo A3S đến tiệm điện thoại Tý Apple ở đường Bùi Thị Xuân, thành phố Huế bán cho anh Lê Văn P với số tiền 800.000 đồng.
Sau đó, H bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Thủy phát hiện bắt khẩn cấp. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đỏ; số tiền 2.650.000 đồng. Đối với 02 sim điện thoại, ốp lưng điện thoại, túi xách cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 100 ngày 26/11/2019 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã Hương Thủy, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đỏ trị giá 2.541.500 đồng; 01 ốp lưng điện thoại, trị giá 3.000 đồng; 02 sim điện thoại đã qua sử dụng, trị giá: 0 đồng; 01 túi xách bằng vải, kích thước (22x25) cm, trị giá: 30.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản trên là 2.574.500 đồng.
Tại bản cáo trạng số 34/CT- VKS-HTh ngày 14/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, kết tội bị cáo theo toàn bộ bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội: Cướp giật tài sản; Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Htừ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh, Biển kiểm soát: 75F1-438.04 của bị cáo Huỳnh Văn H.
- Người bào chữa cho bị cáo H về cơ bản thống nhất tội danh và khung hình phạt áp dụng như đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Văn H: Bị cáo thừa nhận Hnh vi của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Hạnh P và anh Lê Văn P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, và Kiểm sát viên, Cơ quan Viện kiểm sát đã thực hiện các hoạt động tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
. Xét Hnh vi của bị cáo Huỳnh Văn H, thấy rằng: Khoảng 08 giờ ngày 04/11/2019, tại khu vực gần chùa Đức Sơn, thuộc thôn Cư Chánh 2, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế bị cáo Huỳnh Văn H đã dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô mang Biển kiểm soát: 75F1-438.04 áp sát xe mô tô mang Biển kiểm soát 75F1-717.4 đang do chị Lê Thị Hạnh P điều khiển chạy phía trước, nhanh chóng giật lấy tài sản là một túi xách bằng vải, màu trắng đang treo ở tay cầm phía bên trái xe mô tô rồi tẩu thoát. Bên trong túi xách có 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, và số tiền 1.850.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 4.424.500 đồng.
Hnh vi của bị cáo H đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn Hvới tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét các căn cứ quyết định hình phạt thấy rằng: Hnh vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo t Hnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hnh vi của bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô để thực hiện Hnh vi phạm tội, thủ đoạn này ngoài việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản thì có thể gây ra nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại. Mặt khác, tội Cướp giật tài sản có cấu thành hình thức nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ “ Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.
Xét bị cáo H mặc dù là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nhưng Hnh vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, do đó cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Hạnh P và anh Lê Văn P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lê Thị Hạnh P 01 điện thoại di động hiệu Oppo3S màu đỏ và số tiền 1.850.000đ. Trả lại cho anh Lê Văn Phương số tiền 800.000đ. Không có ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh, Biển kiểm soát: 75F1-438.04 là tài sản của bị cáo H, bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện Hnh vi cướp giật tài sản nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn Hphải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H(tên gọi khác: Mập) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 05/11/2019).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh, Biển kiểm soát: 75F1-438.04 của bị cáo Huỳnh Văn H.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Hương Thủy và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Huỳnh Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thị xã Hương Thủy;
- Công an thị xã Hương Thủy;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
- Bị cáo;- Bị hại;
- Sở Tư pháp;
- Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
- Lưu HSVA, VP.
Phan Thị Xuân Huế
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND thị xã Hương Thủy; - Công an thị xã Hương Thủy; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh; - Bị cáo; - Bị hại; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy; - Lưu HSVA, VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Xuân Huế Phan Thị Xuân Huế |