vanban.org

Bản án 34/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 23/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vi Văn M 04 (bốn) tháng tù, tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 25-4-2020). Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 34/2020/HSST
Ngày 23-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hữu Tỷ và ông Phạm Xuân Đức

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2020/TLST-HS, ngày 22 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Vi Văn M, sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở trước khi phạm tội: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vi Văn S (sinh năm 1965) và bà Lương Thị H (đã chết); bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 25-4-2020, sau đó chuyển tạm giam - có mặt

- Bị hại:Anh Y’C, địa chỉ: Bon N’Đ, Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt

Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Chị Đặng Thị V, địa chỉ: Thôn Q, Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 25-4-2020, Vi Văn M đến uống nước mía tại quán của chị Đặng Thị V (sinh năm 1986) ở thôn Q, xã Q. Trong khi nằm võng, M nhìn thấy võng bên cạnh có Anh Y’C đang nằm ngủ, bên hông để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen nên M nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát thấy xung quanh không có ai để ý, M đi đến lấy chiếc điện thoại của Anh Y’C bỏ vào túi quần rồi đi bộ về hướng cây xăng 44. Trên đường đi, M bị lực lượng Công an huyện Đắk Glong phát hiện, bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra vụ án, Vi Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen; 01 con dao dài 13cm, cán bằng nhựa, màu đen, lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng sáng của Vi Văn M.

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 29-4-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Glong kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, trị giá 2.300.000 đồng

Ngày 22-5-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại di động cho Anh Y’C

Ngày 18-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã ra quyết định trả lại con dao đã thu giữ cho Vi Văn M.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Y’C đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo Vi Văn M bồi thường.

Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Vi Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 03 đến 05 tháng tù.

Về các biện pháp tư pháp: Chấp nhận ngày 22-5-2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại di động cho Anh Y’C và ngày 18-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã ra quyết định trả lại con dao đã thu giữ cho Vi Văn M.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Y’ Cảnh không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Khoảng 15 giờ ngày 25-4-2020, tại thôn Q, Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Vi Văn M đã lén lút chiếm đoạt của Anh Y’C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, trị giá 2.300.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của Anh Y’C. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; giá trị tài sản bị thiệt hại không lớn, đã được thu hồi trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm; bị cáo chỉ nhất thời nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ pháp lý.

[6]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận ngày 22-5-2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại di động cho Anh Y’C là chủ sở hữu hợp pháp và ngày 18-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã ra quyết định trả lại con dao đã thu giữ cho Vi Văn M do không liên quan đến việc phạm tội.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh Y’ Cảnh không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vi Văn M 04 (bốn) tháng tù, tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 25-4-2020).

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận ngày 22-5-2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại di động cho Anh Y’C là chủ sở hữu hợp pháp và ngày 18-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã ra quyết định trả lại con dao đã thu giữ cho Vi Văn M do không liên quan đến việc phạm tội.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ