- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Minh K - trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Minh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HS-ST Ngày 28-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô
2. Ông Lê Bá Quyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Thạch Minh K, sinh năm 1993, tại tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã P huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch T, sinh năm 1965 và bà Thạch Thị N, sinh năm 1961; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Ông Tô Văn L, sinh năm 1990; địa chỉ: khu phố T, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Người làm chứng: Ông Phạm Minh H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 23/7/2019, Thạch Minh K đi cùng bạn đến quán Karaoke B, thuộc phường H, thị xã U, tỉnh Bình Dương để hát karaoke. Tại đây, K tình cờ quen biết ông Tô Văn L (ông L cũng đang uống bia và hát karaoke với bạn ở phòng khác tại quán Karaoke B). Đến khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 23/7/2019, ông L mời K vào phòng VIP 2 (nơi ông L đang uống bia và hát karaoke cùng với bạn là ông Phạm Minh H) để cùng uống bia và hát karaoke. Trong lúc cùng uống bia với ông L và ông H thì K nhìn thấy 01 điện thoại di động SamSung Galaxy A30 của ông L đang để trên ghế ngồi trong phòng hát. K nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, K lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài, cất giấu điện thoại dưới tấm bạt phủ màu xanh, cạnh vị trí cây cột điện ngoài cổng của quán Karaoke B. Sau đó, K quay lại phòng tiếp tục uống bia và hát karaoke với ông L và ông H. Khoảng 01 giờ ngày 24/7/2019, ông L phát hiện chiếc điện thoại của mình đã bị mất nên trình báo vụ việc cho Công an phường Tân Hiệp. Công an phường Tân Hiệp mời K về trụ sở để làm việc. Qua làm việc, K đã khai nhận hành vi trộm cắp điện thoại SamSung Galaxy A30 của ông L.
Kết luận định giá số 238/KLTS-TTHS ngày 21/8/2019 của Hội đồng định giá kết luận: 01 điện thoại di động SamSung Galaxy A30 đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 4.400.000 đồng. Ngày 27/11/2019, Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho bị hại ông Tô Văn L.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS.TU ngày 10/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên quyết định: Truy tố bị cáo Thạch Minh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hơp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị hại xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không tranh luận và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại ông Tô Văn L không tranh luận và trình bày: Đã nhận lại tài sản, xin bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người làm chứng ông Phạm Minh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra ông H đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của ông H không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/7/2019, bị cáo Thạch Minh K đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động SamSung Galaxy A30 của ông Tô Văn L. Giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt theo kết luận định giá là 4.400.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, bị hại xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có một hình phạt tương xứng. Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, tạo điều kiện cho bị cáo lao động nuôi sống gia đình và trở thành công dân có ích, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Thạch Minh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Xử phạt bị cáo Thạch Minh K 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2020).
Giao bị cáo Thạch Minh K cho Ủy ban nhân dân xã Phú Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Thạch Minh K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (1); - VKSND tỉnh Bình Dương (1); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (1); - PV06 - Công an tỉnh Bình Dương (1); - VKSND thị xã Tân Uyên (1); - Công an thị xã Tân Uyên (2); - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên (1); - UBND xã P, h. C, tỉnh Sóc Trăng (1); - Bị cáo, bị hại (2); - Lưu: VT, HS. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Nga |