vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trư ng G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trư ng G 14 mư i bốn tháng tù giam. Th i gian thụ hình tính từ ngày 18/02/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trư ng G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày 29 tháng 4 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Kiều Anh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Nguyên Hồng

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà

Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2020/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường G. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15/7/1989, tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: X, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1958 và bà Đinh Thị T, sinh năm: 1963 cùng trú tại X, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2020 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị V, sinh năm: 1993. Tạm trú: Tiểu khu 2, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác: Anh Hà Hữu B, sinh năm: 1988. Tạm trú: Tiểu khu 2, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 gi ngày 18/02/2020, G đi bộ từ nhà tại Tiểu khu 20, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn đến nhà Hà Hữu Trọng tại Tiểu khu 2, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn r Trọng đi chơi. G điều khiển xe mô tô nh n hiệu HONDA - VISION biển kiểm soát 26K1 - 175.68 chở Trọng phía sau đến khu vực Tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn thì thấy một ngư i đàn ông không biết tên, địa chỉ . G dừng xe cách vị trí ngư i đàn ông đứng khoảng 50m và bảo Trọng ch rồi đi bộ đến gặp và đặt vấn đề mua 06 viên Hồng phiến vói giá 500.000VNĐ c a ngư i đàn ông đó. Sau khi nh n tiền, ngư i đàn ông bảo G đợi, khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho G 01 gói giấy bạc, trong có 06 viên Hồng phiến, G cất vào trong ví giả da để trong túi qu n trước đang mặc rồi quay lại điều khiển xe mô tô chở Trọng đi về nhà, khi đi đến khu vực Tiểu khu 2, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn thì bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ v t chứng gồm: 01 gói giấy bạc bên trong chứa 06 viên nén màu hồng, trên bề mặt m i viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp trong 01 ví da màu đen để trong túi qu n phía trước bên phải G đang mặc ; 01 điện thoại di động nh n hiệu SAMSUNG A50 màu đen k m 01 sim điện thoại tại túi áo trong bên trái G đang mặc ; 01 xe mô tô nh n hiệu HONDA VISION biển kiểm soát 26K1 - 175.68.

Ngày 18/02/2020, Công an huyện Mai Sơn phối hợp cùng Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La thành l p hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh v t chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Trư ng G, kết quả:

Khối lượng 06 viên nén màu hồng là 0,6 gam, lấy toàn bộ làm m u trưng c u giám định ký hiệu M.

Tại bản kết lu n giám định số 379 ngày 21/02/2020 c a Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết lu n:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý; Loại chất Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,6 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,6 gam, loại Methamphetamine.”

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trư ng G đ thành khẩn khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội c a mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 17/4/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đ truy tố bị cáo Nguyễn Trư ng G về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.

Sau khi kết thúc ph n thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày l i lu n tội đối với bị cáo và đ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trư ng G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự: Xử phạt Nguyễn Trư ng G từ 14 mư i bốn tháng đến 18 mư i tám tháng tù. Th i gian thụ hình tính từ ngày 18/02/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về v t chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t Hình sự; áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu h y: 01 phong bì do phòng kỹ thu t Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong đựng 01 vỏ phong bì thư niêm phong v t chứng ban đ u và 0,48gam Methamphetamine; 01 phong bì do phòng kỹ thu t Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong đựng 01 vỏ phong bì thư niêm phong v t chứng ban đ u và mảnh giấy bạc gói ma túy ban đ u; 01 ví giả da màu đen kích thước 7cm x 10cm.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nh n hiệu SamSung Galaxy A50 vỏ màu đen k m sim và có số thuê bao là 0969354047, máy đ qua sử dụng cũ, không kiểm tra bên trong máy.

Chấp nh n việc cơ quan điều tra trao trả cho chị Phạm Thị V 01 xe máy nh n hiệu Honda Vison, vỏ màu đỏ, BKS 26K1-175.68, số khung 559657, số máy 0271518 thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Trư ng G.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ lu t tố tụng hình sự, Điều 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Trư ng G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo nhất trí với nội dung lu n tội c a đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

Xét hành vi c a bị cáo thì thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội c a bị cáo đ thực hiện. L i khai nh n tội c a bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang l p hồi 22 gi 30 phút ngày 18/02/2020 c a Công an huyện Mai Sơn; Biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định và niêm phong lại v t chứng; phù hợp với kết lu n giám định số 379/KLMT ngày 21/02/2020 c a Phòng kỹ thu t hình sự công an tỉnh Sơn La; phù hợp với biên bản lấy l i khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh lu n không có gì mâu thu n, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Như v y, có đ căn cứ để kết lu n: Ngày 18/02/2020, G đ mua trái phép 500.000 VNĐ Methamphetamine mục đích để sử dụng và bị Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang khi đang tàng trữ 0,6 gam Methamphetamine. Hành vi c a bị cáo đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự. Cáo trạng số: 37/CT-VKSMS ngày 17/4/2020 truy tố bị cáo là chính xác, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp lu t, không oan sai cho bị cáo.

Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm B c a tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là ngư i có đ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nh n thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp lu t, nhưng bị cáo đ bất chấp quy định c a pháp lu t để phạm tội với l i cố ý. Hành vi c a bị cáo đ xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý c a Nhà nước về ma túy, gây mất tr t tự trị an x hội, tiếp tay cho các đối tượng hám l i có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình c n phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Trư ng G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm tội thuộc trư ng hợp nghiêm B. Bị cáo có nh n thức được tác hại c a ma túy nhưng bị cáo v n bất chấp pháp lu t phạm tội với l i cố ý. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng c n xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.

Từ những nh n định trên, Hội đồng xét xử xét thấy c n thiết cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống x hội một th i gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng th i mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nh p ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng có giá trị do đó c n miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về v t chứng c a vụ án: Đối với toàn bộ v t chứng đ thu giữ c a bị cáo, áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t Hình sự; áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự giải quyết như sau:

Tịch thu tiêu h y v t chứng là chất độc dược Nhà nước cấm lưu hành và v t không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì do phòng kỹ thu t Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong đựng 01 vỏ phong bì thư niêm phong v t chứng ban đ u và 0,48gam Methamphetamine; 01 phong bì do phòng kỹ thu t Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong đựng 01 vỏ phong bì thư niêm phong v t chứng ban đ u và mảnh giấy bạc gói ma túy ban đ u; 01 ví giả da màu đen kích thước 7cm x 10cm.

Đối với 01 điện thoại di động nh n hiệu SamSung Galaxy A50 vỏ màu đen k m sim và có số thuê bao là 0969354047, máy đ qua sử dụng cũ là tài sản hợp pháp c a bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên c n trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe máy nh n hiệu Honda Vison, vỏ màu đỏ, BKS 26K1-175.68, số khung 559657, số máy 0271518 thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Trư ng G là tài sản hợp pháp c a chị Phạm Thị V, chị không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, tại giai đoạn điều tra chị V đ có đơn xin lại tài sản là chiếc xe trên, việc trả lại xe cho chị V không làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án do đó c n chấp nh n việc cơ quan điều tra trao trả cho chị Phạm Thị V.

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ lu t tố tụng hình sự. Bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có ngư i nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về nguồn gốc chất ma tuý: Bị cáo Nguyễn Trư ng G khai mua c a một ngư i đàn ông không biết tên, địa chỉ tại Tiểu khu 1, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La khi mua bán không có ai biết, chứng kiến . Ngoài l i khai c a bị cáo không có chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để mở rộng vụ án là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trư ng G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 :

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trư ng G phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trư ng G 14 mư i bốn tháng tù giam. Th i gian thụ hình tính từ ngày 18/02/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về v t chứng c a vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t Hình sự; áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu h y: 01 phong bì do phòng kỹ thu t Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong đựng 01 vỏ phong bì thư niêm phong v t chứng ban đ u và 0,48gam Methamphetamine; 01 phong bì do phòng kỹ thu t Công an tỉnh Sơn La phát hành, bên trong đựng 01 vỏ phong bì thư niêm phong v t chứng ban đ u và mảnh giấy bạc gói ma túy ban đ u; 01 ví giả da màu đen kích thước 7cm x 10cm.

Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nh n hiệu SamSung Galaxy A50 vỏ màu đen k m sim và có số thuê bao là 0969354047, máy đac qua sử dụng cũ, khong kiểm tra bên trong máy.

Chấp nh n việc cơ quan điều tra trao trả cho chị Phạm Thị V 01 xe máy nh n hiệu Honda Vison, vỏ màu đỏ, BKS 26K1-175.68, số khung 559657, số máy 0271518 thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Trư ng G.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ lu t tố tụng hình sự, Điều 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Trư ng G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Báo cho bị cáo, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ