vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 04 (bốn) tháng 07 (bảy) ngày tù, thời gian tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 11-01-2020. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày: 18-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cao

2. Ông Nguyễn Chí Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2020/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1966 tại Hà Tĩnh. ĐKTT: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1927 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1937 (chết); bản thân có vợ tên Nguyễn Thị H, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-01-2020 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần Thép T

Địa chỉ: Số 400 Quốc Lộ 1A, khu phố 9, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ninh Thị Bích T – Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1986

ĐKTT: Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1973

ĐKTT: Khu phố 9, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Trần Thế P, sinh năm 1966

ĐKTT: Khu phố 9, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là công nhân xưởng tái sinh của Công ty Cổ phần Thép T, địa chỉ: Khu phố 9, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Trong quá trình làm việc do không có tiền để đóng tiền phòng trọ nên vào khoảng 04 giờ ngày 11/01/2020, N nhìn thấy trong xưởng xả băng 3 của Công ty Cổ phần Thép T có để ruột dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, không người trông giữ nên nảy sinh ý định lấy cắp 01 (một) cuộn dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, nhãn hiệu VCm 250, dài 11m, nặng 29kg. N đưa ra khỏi xưởng bằng cách luồn dây cáp điện qua khe hở giữa các song sắt phía tường rào ném dây cáp điện ra khu đất trống có nhiều bụi rậm phía ngoài công ty. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi hết giờ làm việc N đến lấy để mang đi tiêu thụ thì bị người dân, bảo vệ phát hiện bắt quả tang N cùng tang vật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 09/KL-HĐĐG ngày 16/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Lức định giá: 01 (một) dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, nhãn hiệu VCm 250, dài 11m, nặng 29kg, trị giá 4.549.402 đồng.

Tại cáo trạng số 42/CT-VKSBL ngày 24-3-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.

Đại diện hợp pháp của bị hại Công ty Cổ phần Thép T chị Huỳnh Thị Kim C trình bày: Chị là Phó phòng nhân sự và là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Thép T trong vụ án này. Vào sáng ngày 11/01/2020, Công ty thép TVP được cơ quan Công an thông báo bắt giữ đối tượng Nguyễn Văn N trộm cắp tài sản của công ty, qua kiểm chứng công ty phát hiện bị mất 01 (một) cuộn dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, nhãn hiệu VCm 250, dài 11m, nặng 29kg, trị giá 4.549.402 đồng, công ty thống nhất với mà Hội đồng định giá đã định. Sau sự việc xảy ra, Công ty đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và về trách nhiệm hình sự công ty yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Công ty không yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo là đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Do hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại Công ty Cổ phần Thép T (người đại diện theo ủy quyền là chị Huỳnh Thị Kim C, chức vụ: Phó phòng nhân sự) đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét đến.

Về vật chứng: 01 (một) cuộn dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, nhãn hiệu VCm 250, dài 11m, nặng 29kg, hiện Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại cho đại diện Công ty Cổ phần Thép T là phù hợp nên không xét đến.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo là không oan sai bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo. Đị diện bị hại không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản định giá tài sản, biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định xuất phát từ lòng tham lam, động cơ mục đích vụ lợi do thiếu tiền trả tiền thuê nhà trọ và tiêu xài cá nhân nên khoảng 04 giờ ngày 11/01/2020 Nguyễn Văn N là Công nhân làm việc tại xưởng tái sinh của Công ty Cổ phần Thép T đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) cuộn dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, nhãn hiệu VCm 250, dài 11m, nặng 29kg của Công ty trị giá 4.549.402 đồng trong lúc mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện và bị bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó Cáo trạng Viện kiểm sát huyện Bến Lức truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút lấy lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự địa phương. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, thời gian giam giữ bị cáo từ ngày 11/01/2020 đến nay cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại Công ty Cổ phần Thép T (người đại diện theo ủy quyền là chị Huỳnh Thị Kim C, chức vụ: Phó phòng nhân sự) đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì thêm về dân sự nên ghi nhận không xét đến.

Về vật chứng: 01 (một) dây cáp điện màu đen, lõi bằng đồng, nhãn hiệu VCm 250, dài 11m, nặng 29kg, hiện Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại cho đại diện Công ty Cổ phần Thép T là phù hợp nên không xét đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 04 (bốn) tháng 07 (bảy) ngày tù, thời gian tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 11-01-2020.

Áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ