- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 18 (mười tám) tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 11 tháng 8 năm 2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HS-ST Ngày 30-10-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhạn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đàm Công Du;
Ông Vũ Văn Thôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2020/TLST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2020/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1984, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961 và con bà Ngô Thị T, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1983 và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1968; trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 30 phút sáng ngày 04 tháng 7 năm 2020, Nguyễn Văn K
mượn xe đạp của mẹ đẻ là bà Ngô Thị T đi uống thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện An Lão. Sau khi uống xong, khoảng 8 giờ K đi xe đạp đến nhà bà Đỗ Thị H làm dịch vụ cho vay - cầm đồ ở 232 đường N, khu H, thị trấn A, huyện A để cắm chiếc xe đạp đang đi lấy tiền mua ma túy sử dụng. K đến nhà bà H gọi không thấy có ai trả lời, K phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại LEAD màu trắng, biển kiểm soát 15B2-375.25 dựng ở ngõ cạnh nhà bà H, đầu xe quay vào trong, đuôi xe quay ra ngoài, chìa khóa vẫn cắm ở xe. K nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô, K dựng chiếc xe đạp vào tường nhà bà H rồi điều khiển xe mô tô đến nhà anh Trần Văn L ở thôn K, xã A, huyện A ăn cơm và chơi đến chiều tối. K lấy lý do xe K hết xăng, K mượn anh L chiếc xe mô tô Wave biển kiểm soát 16M9-9238 đi về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bà H đến nhà tìm K nhưng K trốn không gặp, bà H nói chuyện với bố mẹ K về việc bà mất xe và nghi K là người lấy trộm. Sau khi được bố mẹ nói chuyện K đến nhà anh L lấy xe đưa cho gia đình mang trả lại bà H.
Ngày 04 tháng 7 năm 2020, bà Đỗ Thị H có đơn trình báo Công an về việc bà mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD màu trắng, biển kiểm soát: 15B2-375.25.
Tại kết luận định giá tài sản số 20/KL-ĐG ngày 10 tháng 7 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện An Lão kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD màu trắng, biển kiểm soát: 15B2-375.25 số khung: RL - HJF4504DYO27776, số máy: JF45E - 004853. Trị giá 20.500.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 592/KLGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, BKS: 15B2 -375.25, có số khung: RLHJF4504DYO27776, số máy: JF45E - 004853 là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự.
Tại kết luận giám định số 609/KLGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 01 (một) biển kiểm soát 15B2 - 375.25 là giả và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (không có số), màu sơn: Trắng, dung tích: 124, số máy: JF45E0040853, số khung: 4504DY027776, chủ xe: Trần Thị Tâm, địa chỉ: Hạ Đoạn 3, Đông Hải 2, HA, HP; ghi ngày cấp 15/7/2016 và nơi cấp: Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng, là giả.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn K mức án từ 18 đến 21 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản"; về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà H không đề nghị gì về phần dân sự đối với bị cáo nên không xem xét; chiếc xe Honda LEAD màu trắng, biển kiểm soát: 15B2 -375.25 của một người phụ nữ cầm cố cho bà H, bà H không biết nguồn gốc chiếc xe mình nhận cầm cố nên Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão không xử lý đối với bà H. Đối với Trần Văn L không biết chiếc xe mô tô BKS: 15B2-375.25 là do K phạm tội mà có nên không xử lý hình sự đối với Trần Văn Long. 01 biển kiểm soát: 15B2 -375.25 (giả ) và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (không có số), biển số đăng ký: 15B2-375.25 (giả) cần tịch thu tiêu hủy. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng, đồng thời phù hợp với tang vật vụ án đã thu giữ được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 8 giờ sáng ngày 04 tháng 7 năm 2020, Nguyễn Văn K đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại LEAD màu trắng, biển kiểm soát 15B2-375.25 của bà Đỗ Thị H trị giá 20.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng vụ án:
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị T 01(một) chiếc xe đạp mini màu trắng nhãn hiệu BRIDGESTONE. Chiếc xe Honda LEAD màu trắng, số khung: RL-HJF4504DYO27776, số máy: JF45E - 004853 của chị Trần Thanh H, sinh năm 1970, trú tại: 295A, H, phường Đ, quận Lê C, Hải Phòng, bị mất vào ngày 05 tháng 8 năm 2017. Cơ quan Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã chuyển cho Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tiếp nhận chiếc xe trên để giải quyết theo thẩm quyền. Đối với biển kiểm soát: 15B2 - 375.25 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (không có số), biển số đăng ký: 15B2 -375.25, nhãn hiệu Honda, số loại LEAD theo kết luận giám định số 609/KLGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng là giả không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với anh Trần Văn L là người cho bị cáo Nguyễn Văn K gửi nhờ xe mô tô BKS: 15B2-375.25 nhưng không tham gia, bàn bạc, không biết nguồn gốc tài sản bị cáo phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Trần Văn Long.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Đỗ Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 18 (mười tám) tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 11 tháng 8 năm 2020.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 15B2-375.25 (giả) và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (không có số), biển số đăng ký 15B2-375.25 (giả) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09 tháng 10 năm 2020.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Đỗ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - Phòng PV06, PC 10 CATP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Công an huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Nhạn |