vanban.org

Bản án 34/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị V. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị V – sinh năm 1989 được ly hôn với ông Trần Đình Th – sinh năm 1976. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Thị V xin ly hôn ông Trần Đình Th"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21 tháng 09 năm 2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Lệ

2. Ông Nguyễn Văn Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 09 năm 2020 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 06 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 07 năm 2020; Thông báo V/v Hoãn phiên tòa số 27/TB-TA ngày 03 tháng 09 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phan Thị V – Sinh năm 1989

Địa chỉ: thôn PhL, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

* Bị đơn: Ông Trần Đình Th - Sinh năm 1976

Địa chỉ: 68 NVC, tổ 26, phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn là bà Phan Thị V trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần Đình Th kết hôn với nhau năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống tại tổ 26, phường Phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Ông Th bảo thủ, gia trưởng và không quan tâm, lo lắng chăm sóc cho vợ con. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân, tôi đã bống con về nhà cha mẹ ruột tại thôn PhL, xã ĐĐ, huyện ĐL, tỉnh Quảng Nam sinh sống. Do mâu thuẫn của vợ chồng tôi đã quá trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với ông Trần Đình Th.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng tôi có 01 con chung Trần Minh Qu - Sinh ngày 26.5.2018. Quá trình giải quyết vụ án, tôi yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa tôi thấy từ khi vợ chồng ly thân đến nay, ông Th không có trách nhiệm gì đối với con chung nên tôi không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có

* Bị đơn là ông Trần Đình Th không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị V cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 04.05.2020 và ngày 21.05.2020 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là ông Trần Đình Th chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị V xin ly hôn đối với ông Trần Đình Th.

Về quan hệ con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị V, giao con chung Trần Minh Qu - Sinh ngày 26.05.2018 cho bà V nuôi dưỡng, ông Trần Đình Th không cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tung:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Phan Thị V và ông Trần Đình Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại các Điều 208; 209; 210; 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông Trần Đình Th vắng mặt tại phiên toà không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, các Thông báo V/v Hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị V và ông Trần Đình Th có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng vào năm 2017. Việc kết hôn giữa bà V và ông Th là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông Th là hợp pháp.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Phan Thị V xác nhận trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo bà V thì nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Ông Th bảo thủ, gia trưởng và không quan tâm, lo lắng chăm sóc cho vợ con. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân, bà V đã bồng con về nhà cha mẹ ruột tại thôn Phước Lâm, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam sinh sống. Chính quyền địa phương nơi bà V, ông Th cư trú cũng đã xác nhận nội dung bà V đã trình bày là đúng.

Tại phiên tòa bà V khẳng định đã hết tình cảm với ông Trần Đình Th nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn ông Trần Đình Th quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều không có mặt để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà V, điều này thể hiện thái độ thiếu thiện chí trong việc hàn gắn hôn nhân đồng thời chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Th, bà V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà V yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung : Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Phan Thị V xác nhận có 01 con chung Trần Minh Qu - Sinh ngày 26.05.2018. Ông Trần Đình Th không có ý kiến phản đối nên căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự công nhận việc ông Th và bà V có con chung là sự thật.

Ly hôn bà V mong muốn được nuôi con chung Trần Minh Qu - Sinh ngày 26.05.2018 và không yêu cầu ông Trần Đình Th cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên sau ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đình Th không trình bày ý kiến về vấn đề con chung. Từ khi bà V và ông Th mâu thuẫn cho đến nay bà V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bản thân bà cũng có công việc và thu nhập ổn định nên việc giao con chung cháu Trần Minh Qu - Sinh ngày 26.05.2018 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu, phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên yêu cầu được nuôi con chung của bà V được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì tại phiên toà hôm nay bà Phan Thị V không yêu cầu ông Trần Đình Th phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung:Bà Phan Thị V xác nhận không có.

- Về nợ chung: Bà Phan Thị V xác nhận không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đình Th không có ý kiến gì đối với các vấn tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này bà V, ông Th có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Bà Phan Thị V phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị V.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị V – sinh năm 1989 được ly hôn với ông Trần Đình Th – sinh năm 1976.

Giấy Đăng ký kết hôn số 103/2017 ngày 19.10.2017 của Ủy ban nhân dân phường Phường HHB, quận LC, thành phố Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Giao con chung Trần Minh Qu - Sinh ngày 26.05.2018 cho bà Phan Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Đình Th không cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí:

+ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà Phan Thị V phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0004196 ngày 06.02.2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà Phan Thị V đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án:

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21.09.2020.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ