- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn Ng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST Ngày 01-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tâm
Ông Nguyễn Văn Quyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Khu phố 1/5, thị trấn V B, huyện V B, thành phố Hải Phòng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn Ng; nơi cư trú: Cụm 8, G Ph, xã T H, huyện V B, thành phố Hải Phòng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 02 năm 2020, tại bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Vũ Văn Ng kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 30 tháng 12 năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả.Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay, mỗi người sống một nơi và không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Ng.
Về con chung: Chị và anh Ng có 01 con chung là Vũ Ánh Ngọc, sinh ngày 22-10-2011. Hiện con chung đang ở với anh Ng và gia đình anh Ng. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án tiếp tục giao con chung cho anh Ng chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị và anh Ng xin tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Ng xin tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 11-02-2020, bị đơn là anh Vũ Văn Ng trình bày:
Anh xác nhận về thời điểm kết hôn, điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như nội dung chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay, mỗi người sống một nơi và không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Vũ Ánh Ngọc, sinh ngày 22-10-2011. Hiện con chung do anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh và chị H xin tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H xin tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xác định quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, về thẩm quyền đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xét những nội dung sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn Ng.
+ Về con chung: Đề nghị giao con chung là Vũ Ánh Ngọc, sinh ngày 22-10-2011, cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận nên không đặt ra để giải quyết.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh Ng không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
+ Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc chị Thu phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
Anh Vũ Văn Ng có nơi cư trú tại cụm 8, G Ph, xã T H, huyện V B, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con chung giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Vũ Văn Ng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, có bản tự khai và tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Như vậy, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Vũ Văn Ng đã nhận được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án về việc thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Ng đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Nên, anh Ng không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vi phạm này không ảnh hưởng đến kết quả vụ án. Anh Ng đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh Vũ Văn Ng.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn Ng kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 30 tháng 12 năm 2011. Như vậy, hôn nhân này là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả.Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay, mỗi người sống một nơi và không quan tâm đến nhau. Nay, chị H xin ly hôn, anh Ng đồng ý vì anh cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh Vũ Văn Ng.
Về con chung: Chị H và anh Ng có 01 con chung là Vũ Ánh Ngọc, sinh ngày 22-10-2011. Hiện con chung đang ở với anh Ng. Khi ly hôn, chị H và anh Ng thống nhất thỏa thuận giao con chung cho anh Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, anh Ng có việc làm và thu nhập đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; mặt khác, con chung cũng có nguyện vọng được ở với anh Ng. Nên, việc giao con chung cho anh Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với thực tế về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của anh Ng và phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngọc muốn được ở với bố. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị của chị H và anh Ng giao con chung cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị H và anh Ng xin tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh Ng xin tự thỏa thuận nên không xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và các điều 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn Ng.
2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Ánh Ngọc, sinh ngày 22-10-2011, cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận nên không xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, Ng vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 00078044 ngày 10 tháng 02 năm 2020, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh Ng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Vĩnh Bảo; - Chi cục THA DS huyện Vĩnh Bảo; - UBND xã Tân Hưng; - Các đương sự; - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Vinh |