- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ ly hôn giữa Nguyễn Thị Thu Th và Huỳnh Văn L"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC - TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Đào;
2. Bà Bùi Thị Hải Đường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện DMC.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC, Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2020/QĐXX–ST ngày 23 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm: 1979; địa chỉ cư trú: Ấp PL 2, xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn L, sinh năm: 1977; địa chỉ cư trú: Ấp PL 2, xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21-02-2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Th trình bày:
Chị và anh L chung sống với nhau năm 2007, năm 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh. Do mâu thuẫn vợ chồng nên năm 2019 chị làm đơn ly hôn với anh L, vì anh L bỏ đi nên chị rút đơn khởi kiện; sau đó anh L quay về vợ chồng tiếp tục chung sống nhưng anh L không thay đổi mà thường xuyên uống rượu về nhà chửi mắng, xúc phạm, đuổi chị và các con ra khỏi nhà nên vợ chồng ly thân từ tháng 02 năm 2020 cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị và anh L có con chung:
+ Huỳnh Văn M, sinh ngày 28-7-2008;
+ Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 15-8-2009;
+ Huỳnh Thị Thu Th, sinh ngày 09-10-2012;
+ Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 03-7-2016.
Hiện con chung Huỳnh Văn M, Huỳnh Thị Kim H đang sống cùng chị, chị yêu cầu được nuôi 02 người con này. Riêng con chung Huỳnh Thị Thu Th, Huỳnh Thị Kim H đang sống cùng anh L, chị không tranh chấp, đồng ý giao 02 người con này cho anh L nuôi. Không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Chị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng đối với anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Th đối với anh Huỳnh Văn L; giao con chung Huỳnh Văn M, sinh ngày 28-7-2008; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 15-8-2009 cho Chị Th nuôi dưỡng; giao con chung Huỳnh Thị Thu Th, sinh ngày 09-10-2012; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 03-7-2016 cho anh L nuôi dưỡng, ghi nhận Chị Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 con chung; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thu Th là nguyên đơn, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng anh Huỳnh Văn L cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L. Anh L không thực hiện nghĩa vụ của đương sự quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Th và anh L tự nguyện chung sống với nhau năm 2007, năm 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh L đuổi Chị Th và các con khỏi nhà nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2020 cho đến nay, không ai tìm cách giải quyết mâu thuẫn, Chị Th tự lao động sinh sống và nuôi các con. Mặc dù, anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không lý do, thể hiện việc anh L không mong muốn đoàn tụ. Xét thấy Chị Th, anh L hiện đã không chung sống với nhau, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng kéo dài từ năm 2019 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Th đối với anh L là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Xét nguyên vọng của con chung Huỳnh Văn M, sinh ngày 28-7-2008; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 15-8-2009 muốn sống cùng Chị Th và hiện đang sống cùng Chị Th nên để đảm bảo mọi mặt cho các con chung phát triển bình thường, ổn định; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị Th: Giao con chung Huỳnh Văn M, sinh ngày 28-7-2008; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 15-8-2009 cho Chị Th nuôi dưỡng; ghi nhận Chị Th không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi 02 con chung là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật; ghi nhận Chị Th đồng ý giao con chung Huỳnh Thị Thu Th, sinh ngày 09-10-2012; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 03-7-2016 cho anh L nuôi dưỡng, Chị Th không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Th phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Th đối với anh Huỳnh Văn L.
Chị Th, anh L không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
2. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Thu Th được trực tiếp nuôi con chung Huỳnh Văn M, sinh ngày 28-7-2008; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 15-8-2009.
Anh Huỳnh Văn L được trực tiếp nuôi con chung Huỳnh Thị Thu Th, sinh ngày 09-10-2012; Huỳnh Thị Kim H, sinh ngày 03-7-2016.
Không ai cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Th, anh L được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu Th phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh theo Biên lai thu số 0004287 ngày 28 tháng 02 năm 2020; (Chị Th đã nộp xong án phí).
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Huyện DMC; - Chi cục THADS H.DMC; - UBND xã SĐ; - Đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thanh Tòng |