vanban.org

Bản án 34/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thắm E. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thắm E được ly hôn với ông Trần Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thắm E và bị đơn ông Trần Vă…"
  • Tòa quyết gì? 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22 / 4 / 2020
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Mừng;

2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 940/2019/TLST-HNGĐ

ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn,

tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

40/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên

tòa số 32/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2020 và Thông báo thay đổi

thời gian mở phiên tòa số 09/TB-TA ngày 01 tháng 4 năm 2020, giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thắm E, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp L, xã L,

huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn bà Nguyễn Thị Thắm E trình bày, thông qua mai mối, bà Thắm E và ông N

kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào ngày

17/7/2007. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Trần Thị Lan A, sinh ngày 28/5/2007 và đang được bà Thắm E chăm sóc, nuôi dưỡng; không có tài sản chung, nợ chung.

Vợ chồng sống chung được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn,

thường hay cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông N thường xuyên uống rượu. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2008 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà Thắm E yêu cầu được ly hôn với

ông N; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện gồm: bản sao giấy chứng nhận kết hôn số 123/2015, quyển số 01/2007, ngày 17/7/2007 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C cấp; bản sao giấy khai sinh Trần Thị Lan A, sinh ngày 28/5/2007 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C cấp.

- Bị đơn ông Trần Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng

mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Bà Thắm E trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, bà Thắm E không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà Thắm E và ông N kết

hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào ngày 17/7/2007. Xét thấy, từ khi bà Thắm E gửi đơn khởi kiện, ông N không có ý kiến phản hồi và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, bà Thắm E xác định không còn tình cảm với ông N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thắm E đối với ông N theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Thắm E, giao cháu Lan

A cho bà Thắm E tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bà Thắm E không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không đề cập đến.

Về tài sản chung, nợ chung, đề nghị không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82, 83, 84

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Thắm E khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn N.

Đồng thời, ông N cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân

và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trần Văn N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai

nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo

quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng

dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Thắm E và ông N tự nguyện kết hôn và có đăng ký

kết hôn theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thắm E, ông N là

hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà Thắm E xác định, trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên

cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn sống chung từ năm 2008 cho

đến nay. Cho nên, bà Thắm E yêu cầu được ly hôn với ông N.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà Thắm E

và ông N không còn sống chung cách nay hơn 10 năm. Vợ chồng không quan

tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ

lý vụ án cho ông N nhưng ông N không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của

bà Thắm E. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà Thắm E, ông N là

trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thắm E đối với

ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà Thắm E xác định trong thời gian chung sống, vợ

chồng có sinh 01 con chung tên Trần Thị Lan A, sinh ngày 28/5/2007. Bà Thắm

E yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lan A.

Xét thấy, cháu Lan A đang được bà Thắm E chăm sóc, nuôi dưỡng, phát

triển ổn định; ông N không có ý kiến đối với quyền nuôi dưỡng con chung. Bên

cạnh đó, khi Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến thì cháu Lan A có nguyện vọng

được sống với bà Thắm E trong trường hợp bà Thắm E, ông N ly hôn. Do đó, để

đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Lan A, giúp cháu phát triển tốt về thể chất,

tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu Lan A cho bà Thắm E tiếp tục chăm sóc,

nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Thắm E không yêu cầu ông N cấp

dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thắm E xác định không yêu cầu

Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thắm E phải chịu án phí hôn nhân

sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thắm E.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thắm E được ly hôn với ông Trần

Văn N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 123/2015, quyển số 01/2007, ngày 17/7/2007

do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Thắm E và ông Trần Văn N không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thắm E được trực tiếp nuôi dưỡng con

chung tên Trần Thị Lan A, sinh ngày 28/5/2007. Ông Trần Văn N không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Nguyễn Thị Thắm E cùng các thành viên gia đình (nếu có) không

được cản trở ông Trần Văn N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thắm E phải chịu án phí hôn nhân

sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2017/0007774 do Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 27 tháng 12 năm 2019; bà Nguyễn Thị Thắm E đã nộp đủ án phí.

Ông Trần Văn N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Thắm E có

quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Trần Văn N được tính là 15 ngày kể từ

ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ