- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 8 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 115 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HC-ST Ngày: 21/9/2020 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trương Công Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Tâm
2. Bà H’Rum Niê
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 37/2020/TLST-HC ngày 01 tháng 6 năm 2020, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST-HC ngày 01 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn A, huyện P, tỉnh Đắk Lắk, đều có mặt.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Đường G, thị trấn A, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Ngô Thị Minh T - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 05/8/2020), vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Phan Xuân L
- Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Uỷ ban nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 18/8/2020), vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3.2. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh T - Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 15/6/2020), vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 12/4/2017, vợ chồng ông Nguyễn Xuân B, bà Nguyễn Thị N nhận chuyển nhượng của hộ bà Nguyễn Thị T1 thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích đất 4.151m2; địa chỉ đất tại xã E, huyện P, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 do Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/9/2000 cho hộ bà Nguyễn Thị T1. Việc chuyển nhượng đã hoàn tất, hai bên đã giao đất giao tiền đầy đủ và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N ngày 12/4/2017 đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2 theo hồ sơ số CN001.
Do không có nhu cầu sử dụng, nên ông B, bà N đã làm thủ tục để chuyển nhượng đất cho người khác. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ tại bộ phận kiểm tra và xử lý hồ sơ đất đai vào ngày 02/12/2019, thì được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P trả lời bằng “Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ”, nội dung hướng dẫn cho rằng thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, qua kiểm tra thuộc địa giới thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; việc xem xét, cấp lại giấy chứng nhận theo đúng địa giới hành chính đang được Chi nhánh xin ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đã xác định: Theo ranh giới hành chính 364 (theo Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Hội đồng bộ trưởng) thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23 nêu trên thuộc địa phận thôn C, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
*/ Về yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện và theo trình bày của người khởi kiện là ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N có nội dung như sau: Việc UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền của gia đình ông Nguyễn Xuân B. Do đó, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 do UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1 (vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000989 QSDĐ/CH), được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N ngày 12/4/2017 đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2 theo hồ sơ số CN001, để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông theo quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND huyện P trình bày có nội dung như sau:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2, có nguồn gốc sử dụng đất là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tại khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đất đai, quy định: “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật đất đai nếu người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”.
Do đó, UBND huyện không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai nếu người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của người khởi kiện theo quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P là ông Nguyễn Thanh T trình bày có nội dung như sau: Qua kiểm tra hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất nêu trên, nhận thấy: Việc thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đối với thửa đất trên là đúng theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P có ý kiến như sau: Theo ranh giới hành chính 364, hiện nay thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, xã E, huyện P, diện tích 4.151m2 nêu trên nằm trong địa giới hành chính thị xã B. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thị xã B trình bày có nội dung như sau: UBND thị xã B không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N. Do thửa đất trên được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý, nên bản đồ địa chính của thị xã B không thể hiện thửa đất trên. Tuy nhiên, nếu các cơ quan trên đều xác định các thửa đất trên thuộc địa phận thị xã B thì khi được bàn giao hồ sơ, UBND thị xã B sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính; về nội dung: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N về yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 do UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng đất cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N ngày 12/4/2017 đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2, theo hồ sơ số CN 001.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự và của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N là chủ sử dụng của thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích đất 4.151m2 đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng cho ông B và bà N ngày 12/4/2017. Ngày 02/12/2019, ông bà đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đai huyện P, nhưng không thực hiện được vì thửa đất trên bị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai địa giới hành chính. Như vậy, đây là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông B. Ngày 26/5/2020, ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý, giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.
Đối với người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên, là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND huyện P và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, đều thừa nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 do UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N ngày 12/4/2017, đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2 bị cấp sai địa giới hành chính.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đã xác định: Theo ranh giới hành chính 364 (theo Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng) thì thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23 nêu trên thuộc địa phận thôn C, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Tại Điều 8 Luật đất đai năm 1993 quy định “Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai trong địa phương mình theo thẩm quyền được quy định tại Luật này”. Như vậy, thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23 thuộc địa phận thị xã B, tỉnh Đắk Lắk nên không thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
Từ các căn cứ trên, có cơ sở để kết luận: Việc UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754, ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2, là không đúng thẩm quyền.
Quá trình sử dụng, hộ bà Nguyễn Thị T1 đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P không phát hiện sai sót trên và tiến hành đăng ký thay đổi chủ sử dụng cho ông B và bà N. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng địa giới hành chính đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất của ông B bà N tại UBND huyện P và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P; đồng thời, việc xem xét, xử lý đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nào khác.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B bà Nguyễn Thị N, về việc: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 do UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N ngày 12/4/2017 đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Tại phiên tòa, người khởi kiện là ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N chấp nhận chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng. Xét thấy, ý kiến của người khởi kiện là tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện UBND huyện P, tỉnh Đắk Lắk phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật; người khởi kiện ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 115, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 358 của Luật Tố tụng hành chính;
Áp dụng: Điều 8 Luật Đất đai năm 1993; khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N.
1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 888754 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 29/9/2000 cho hộ Nguyễn Thị T1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý thay đổi người sử dụng cho ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N ngày 12/4/2017, đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.151m2; địa chỉ: xã E, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Đắk Lắk và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Đắk Lắk có trách nhiệm thực hiện các thủ tục để bàn giao hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N có quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân thị xã B để thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Chấp nhận việc người khởi kiện là ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N tự nguyện chịu 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk ngày 17/6/2020 (đã thẩm định và chi phí xong).
3. Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Ông Nguyễn Xuân B và bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí hành chính đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số AA/2019/0010310 ngày 28/5/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ III); - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Đ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trương Công Bình |