vanban.org

Bản án 34/2019

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh T, phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt: bị cáo Lê Thanh T 04(Bốn) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 08/11/2018. Tuyên bố: bị cáo Hồ Thanh H, phạm tội “Cướp giật tài sản” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "bị cáo Hồ Thanh H, phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh T, phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2019 HSST
Ngày: 19/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH B

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Thạch – Thẩm phán

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hưng Quang, Giáo viên hưu trí

2. Ông Nguyễn Thông Thái, Phó giám đốc Bệnh viện huyện T

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Việt Quốc, cán bộ Tòa án nhân dân huyện T.

Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: Ông Trần H Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án huyện T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/2019/HSST, ngày 18/3/2019 đối với các bị cáo:

1. Lê Thanh T (tên gọi khác: Bập Bùng), sinh năm 1996; Nơi sinh tỉnh B; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố Minh Tân 3, thị trấn P, huyện T, tỉnh B; chổ ở hiện nay: khu phố Giang H 3, thi trấn P, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch; con ông Lê Thanh D và bà Hồ Thị M; vợ Lê Thị Ngọc Y , sinh năm 1997(không đăng kí kết hôn) hiện nay không rõ chỗ ở, con: 01 người, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 08.11.2018 và có mặt tại phiên tòa.

2. Hồ Thanh H (tên gọi khác: Út), sinh 03.02.2003; Nơi sinh tỉnh B; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố Minh Tân 3, thị trấn P, huyện T, tỉnh B; chổ ở hiện nay: khu phố Giang H 3, thi trấn P, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch; con ông Lê Thanh Dũng và bà Hồ Thị Minh; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị được tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Lư Đức T, sinh ngày 03/4/2013; người đại diện hợp pháp cho T là ông Lư Vũ Minh T, sinh năm 1985; trú tại: thôn Bình Minh, xã Phan Hòa, huyện B, tỉnh B (vắng mặt)

2. Nguyễn Phạm Hoài N, sinh ngày 06/5/2014; người đại diện hợp pháp cho Nam là ông Nguyễn Văn T sinh năm 1983, bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1983; trú tại: khu phố Xuân Giang 1, thị trấn P, huyện T, tỉnh B (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Võ Thị C, sinh năm 1979; trú tại: khu phố Minh Tân 4, thị trấn P, huyện T, tỉnh B (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H: bà Hồ Thị M, sinh năm 1970; trú tại: khu phố Giang H 3, thị trấn P, huyện T, tỉnh B (mẹ của bị cáo H, có mặt)

Người bào chữa theo luật định cho bị cáo H: ông Nguyễn Thanh Nhiên, Luật sư - Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).

Người làm chứng:

Đỗ Ngọc Q, sinh năm 1993; trú tại: khu phố Giang H 1, thị trấn P, huyện T, tỉnh B (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Lê Thanh T và Hồ Thanh H đã cùng nhau thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản tại thị trấn P, huyện T, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 30.10.2018, Lê Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng biển số 86B1- 24372 chở Hồ Thanh H đi lòng vòng tại thị trấn P để chơi. Trên đường đi T rủ H đi tìm tài sản để cướp giật để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, H đồng ý. T và H đi đến quán hủ tiếu của Phạm Thị Kim Hà ở trên vỉa hè thuộc khu phố Giang H 3, thị trấn P, huyện T thì nhìn thấy Nguyên Phạm Hoài Nam là con của Hà ngồi trên bàn sát lề đường đang để 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S trên bàn, H đi bộ đến phía sau Nam quan sát xung quanh, H thấy không có ai để ý liền dùng tay pH giật lấy điện thoại di động của Nam rồi chạy đến vị trí T đang dừng xe và nói “chạy”, T điều khiển xe máy chở H bỏ chạy. Sau đó, T đưa điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S vừa cướp giật được đến nhà của Võ Thị C khu phố Minh Tân 4, thị trấn P, huyện T bán cho Chúc, Chúc không biết đây là tài sản do T cướp giật mà có nên đồng ý mua với giá 700.000 đồng. Ngày 08.11.2018 Võ Thị C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S mà Chúc đã mua được từ T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 125/KL-HĐDG ngày 27.11.2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

+ Điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ - đen loại màn hình cảm ứng, có thông số kĩ thuật cơ bản như sau: Màn hình LTPS LCD, 6.2”, Full HD; RAM: 2GB; bộ nhớ trong: 16GB; 02 camera… đã qua sử dụng, điện thoại có dán miếng kính cường lực màn hình, máy vẫn hoạt động bình thường và còn tương đối mới, giá trị thực tế còn lại là 95% có trị giá: 3.690.000 đồng/chiếc x 95% = 3.505.500 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng hơn 17 giờ ngày 08.11.2018 Lê Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng biển số 86B1 – 24372 đi về nhà của T ở khu phố Giang H 3, thị trấn P, huyện T rủ Hồ Thanh H đi cướp giật tài sản để có tiền sử dụng ma túy, H đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở H ngồi phía sau chạy lòng vòng ở thị trấn P để tìm kiếm tài sản cướp giật. T và H đi đến khu vực trại gỗ của Lư Vũ Minh T ở gần khu vực phòng khám đa khoa P thuộc khu phố Song Thanh 2, thị trấn P, huyện T thì nhìn thấy Lư Đức T là con của T đang nằm ngửa trên xe mô tô của T gần trại gỗ, trên tay đang cầm điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu vàng đồng. T nói với H giật lấy điện thoại của T, H đồng ý. T chở H chạy đến gần vị trí T đang ngồi, H xuống xe máy đi bộ quan sát xung quanh thấy không có ai nên H bảo T điều khiển xe máy lại gần, H lên xe mô tô ngồi phía sau cho T điều khiển xe mô tô áp sát vào T, H ngồi phía sau giật lấy điện thoại của T, T điều khiển xe bỏ chạy. Sau đó, T và H đem điện thoại cướp giật được đến tiệm điện thoại Tùng Apple của Đỗ Ngọc Quý ở khu phố Giang H 1 thị trấn P bán cho Quý nhưng Quý không đồng ý mua, vừa lúc T và H bị Công an thị trấn P phát hiện mời về trụ sở làm việc, T và H đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. Ngày 08.11.2018 Đỗ Ngọc Quý đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng cho cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Thanh T đã tự nguyện giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu Sirius màu trắng biển số 86B1 – 24372

Tại bản kết luận định giá tài sản số 117/KL-HĐDG ngày 14.11.2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:

+ Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng, loại màn hình cảm ứng, có thông số kĩ thuật cơ bản như sau: Màn hình PLS TFT LCD, 5.5”, Full HD; Hệ điều hành; RAM: 2GB; bộ nhớ trong: 16GB; 02 camera… đã qua sử dụng, màn hình bị nứt, vỏ bị trầy xước nhiều, máy vẫn hoạt động bình thường, giá trị thực tế còn lại là 40% có trị giá:3.690.000 đồng/chiếc x 40% = 1.476.000 đồng.

Như vậy, Lê Thanh T và Hồ Thanh H đã 02 lần cướp giật tài sản có tổng trị giá là 4.981.500 đồng

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-TP, ngày 18/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố các bị cáo về tội “ Cướp giật tài sản” theo điểm d, điểm g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thanh T và Hồ Thanh H, phạm tội “ Cướp giât tài sản”

- Đối với bị cáo Lê Thanh T, áp dụng điểm d, điểm g khoản 2 điều 171, điểm h, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017), để xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm đến 05 năm tù.

- Đối với bị cáo Hồ Thanh H, áp dụng điểm d, điểm g khoản 2 điều 171, điểm, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017), để xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa ông Luật sư bào chữa theo luật định cho bi cáo Hồ Thanh H, trình bày bản luận cứ: Tôi nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Hồ Thanh H, cũng như lời luận tội của ông Kiểm sát viên tại phiên tòa, tuy nhiên cần xem xét, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bỏ học sớm là trẻ em nhận thức pháp luật còn hạn chế, do không làm chủ được bản thân bị người lớn rủ rê lôi kéo, lúc pham tội ở độ tuổi dưới 16 tuổi, thành khẩn khai báo, người bị hại cũng đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ mức án cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho bị cáo mức án dưới 03 năm tù.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo Lê Thanh T: bị cáo đã nông nổi nhất thời phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo tự cải tạo bản thân mình trở thành người tốt. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm nữa.

- Bị cáo Hồ Thanh H không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của các bị cáo và các chứng cứ chứng minh:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng pháp luật, không oan sai. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 30.10.2018 tại vỉa hè thuộc khu phố Giang H 3, thị trấn P, huyện T, các bị cáo Lê Thanh T và Hồ Thanh H đã thực hiện hành vi giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S của Nguyễn Phạm Hoài Nam (sinh: 06.05.2014), đem bán cho bà Võ Thị C với giá 700.000 đồng.

Cũng tương tự như trên, vào ngày 08.11.2018 khu vực trại gỗ của Lư Vũ Minh T, ở gần phòng khám đa khoa P thuộc khu phố Song Thanh 2, thị trấn P, các bị cáo Lê Thanh T và Hồ Thanh H đã thực hiện hành vi giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Samsung J7 màu vàng đồng của Lư Đức T (sinh 03.04. 2013) Sau đó, đem điện thoại cướp giật được đến tiệm điện thoại Tùng Apple của Đỗ Ngọc Quý bán cho Quý nhưng Quý không mua, vừa lúc đó bị Công an thị trấn P phát hiện mời về trụ sở làm việc.

Vì vậy, bản cáo trạng số 27/CT-VKS-TP, ngày 18/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố các bị cáo về tội “ Cướp giật tài sản” theo điểm d, điểm g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Các bị cáo là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thừa biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu sài mà không do sức lao động của mình làm ra, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ tài sản, các bị cáo đã cướp giật tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. nên cần pH xử các bị cáo một mức án nghiêm khắc, để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Vụ án có tính đồng phạm giản đơn, bị cáo Lê Thanh T với vai trò chủ mưu, rũ rê và giúp sức cho Hồ Thanh H thực hiện, những vai trò này cò tính bổ trợ với nhau, nên các bị cáo pH chịu trách nhiệm chung cho hậu quả xảy ra.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi của các bị cáo Lê Thanh T và Hồ Thanh H rất nguy hiểm cho xã hội đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với 2 tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm d, điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

Các bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017)..

Riêng đối với Lê Thanh T là người khởi xướng rủ rê Hồ Thanh H là người dưới 16 tuổi, cùng tham gia cướp giật tài sản đây, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đối với Hồ Thanh H (sinh 03.02.2003) lúc phạm tội dưới 16 tuổi, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, nên áp dụng Điều 91, Điều 101 và những quy định tại chương XII của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) về xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội để xử lý.

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo nghiện ma túy nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để có đủ thời gian cai nghiện, cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe những phần tử khác có ý đồ phạm tội tương tự.

Về các tang vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự:

Sau khi định giá Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng đồng cho Lư Vũ Minh T là người đại diện hợp pháp cho bị hại Lư Đức T và trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đỏ - đen cho Phạm Thị Kim Hà là người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyên Phạm Hoài Nam .

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 86B1-24372 của Võ Trung cho Lê Thanh T mượn, do Trung không biết T sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã trả lại cho Trung là đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Lư Vũ Minh T là người đại diện hợp pháp cho bị hại Lư Đức T và Phạm Thị Kim Hà là người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyên Phạm Hoài Nam, trong quá trình điều tra không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét, giải quyết.

Đối với Võ Thị C đã mua nhầm tài sản do phạm tội mà có, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S đã giao trả lại cho chủ sở hữu, trong quá trình điều tra chị Chúc đã tự nguyện cho các bị cáo 700.000đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về án phí:

Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, tuy nhiên đối với mức hình phạt đề nghị cho bị cáo Hồ Thanh H là quá nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận 1 phần múc án đề nghị, tương ứng với độ tuổi của bị cáo H, theo quy định tại chương XII Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) như đã phân tích ở trên.

Đối với đề nghị của ông luật sư bào chữa cho bị cáo H tại phiên tòa là có căn cứ, nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm d, điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: bị cáo Lê Thanh T, phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt: bị cáo Lê Thanh T 04(Bốn) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 08/11/2018.

2. Căn cứ vào: điểm d, điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: bị cáo Hồ Thanh H, phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt: bị cáo Hồ Thanh H 21(Hai mươi mốt) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày thi hành án.

3. Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo mỗi người pH nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo H, người bào chữa theo luật định cho bị cáo H báo cho họ biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (19/4/2019). Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ