- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Tú X - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HS-ST Ngày 08-8-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lộc Sơn Thái;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chung;
Ông Nguyễn Khắc Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Ảnh - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2019/TLST-HS ngày
09 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
38/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Vi Tú X (Wei Xiu Q), sinh ngày 18 tháng 5 năm 1976 tại tỉnh Q, Trung
Quốc; nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã T, huyện P, tỉnh Q, Trung Quốc; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Tiểu học; dân tộc: Choang; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Vi Cẩm X, sinh năm
1948 và bà Vi Ma V, sinh năm 1948; có vợ Mạc Chấn L, sinh năm 1975, có 01
con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách
nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm kỷ luật; bị tạm giữ,
tạm giam từ ngày 24/3/2019 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn V, sinh năm 1970; nơi cư trú: Khu đô thị N, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Dương Doãn X – Phòng PC 02, Công an tỉnh
Lạng Sơn; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02 giờ ngày 24-3-2019, Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát hình sự, Công
an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tuần tra tại Khu đô thị N, thuộc xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện một đối tượng nam giới đang tìm kiếm tài sản để trộm cắp trong ngôi nhà tại phố L, Khu đô thị N. Tổ công tác đã đưa đối tượng về trụ sở Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để làm rõ.
Căn cứ vào nội dung trình bày của ông Lê Văn V tại Khu đô thị N, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn về việc ngày 16-3-2019, gia đình anh bị mất trộm một số tài sản gồm: 01 chiếc áo da màu đen nhãn hiệu “POSALEY”; 01 chiếc áo phao màu xám nhãn hiệu “ADIDAS”; 01 chiếc áo sơ mi màu xám nhãn hiệu “AKUBA”; 01 túi giả da màu đen nhãn hiệu “VERSACE” và 1.800.000 đồng tiền mặt. Sự việc trộm cắp được camera của gia đình ghi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn đã cho ông Lê Văn V gặp mặt Vi Tú X, ông Lê Văn V khẳng định Vi Tú X chính là đối tượng đã trộm cắp tài sản tại nhà anh ngày 16-3-2019.
Tại Biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số 51/ĐGTSTT ngày 24-3-
2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xác định: Giá trị của 01 chiếc áo da màu đen nhãn hiệu “POSALEY” là 2.450.000 đồng; 01 chiếc áo phao màu xám nhãn hiệu “ADIDAS” là 100.000 đồng; 01 chiếc áo sơ mi màu xám nhãn hiệu “AKUBA” là 450.000 đồng; 01 túi giả da màu đen nhãn hiệu “VERSACE” là 595.000 đồng. Tổng giá trị tài sản anh Lê Văn V bị trộm cắp là 3.595.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Vi Tú X khai nhận: Vi Tú X quen một người đàn ông
Việt Nam trong quá trình người đó làm thuê tại trấn B, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 15-3-2019, được người đàn ông này đưa sang Việt Nam, sau đó đưa cho Vi Tú X một bộ dụng cụ bằng kim loại để trộm cắp tài sản và hẹn khi nào muốn quay trở lại Trung Quốc thì đến một quán ăn ở thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để người này dẫn đường. Khi đến thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Vi Tú X đón xe khách đi đến thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, xuống xe đi bộ dọc theo tuyến đường sắt thuộc Khu đô thị N, xã H, thành phố L rồi đi vào khu vực dân cư, quan sát xem có nhà nào sơ hở thì đột nhập và trộm cắp tài sản. Khoảng 04 giờ sáng ngày 16-3-2019, Vi Tú X thấy nhà anh Lê Văn V khóa cửa. Vi Tú X vòng ra cửa phụ ở phía sau, dùng tay giật mạnh tay nắm cửa ra phía ngoài làm cánh cửa bật ra. Vi Tú X đi vào tầng một tìm xung quanh nhưng không phát hiện tài sản gì nên đã vào bếp lấy 01 con dao đi lên tầng hai, thấy có hai buồng ngủ đều khóa cửa; Vi Tú X dùng dao cậy cửa phòng ngủ nhưng không cậy được nên đã quay xuống tầng một để tìm chìa khóa. Vi Tú X mang lên tầng hai mở được cửa một phòng ngủ và lấy 01 áo da nam màu đen, 01 áo phao màu xám ở trong tủ quần áo và 1.800.000 đồng ở ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ nói trên. Sau khi lấy được tài sản, Vi Tú X đi xuống tầng một, ra ngoài bằng đường cửa sau và đi vào một ngôi nhà bỏ hoang để ngủ. Vi Tú X để 02 chiếc áo tại ngôi nhà hoang. Sáng ngày 16-3-2019, Vi Tú X đem theo số tiền trộm cắp được để trả tiền xe, tiền ăn và đi gặp người đàn ông đã đưa Vi Tú X sang Việt
Nam, khi gặp được người đàn ông trên, Vi Tú X đưa số tiền cho người này đi
đổi được 216 CNY, người đàn ông này lấy 100 CNY và bộ dụng cụ trộm cắp tài
sản rồi đưa Vi Tú X quay trở lại Trung Quốc.
Đến ngày 23-3-2019, Vi Tú X tiếp tục sang Việt Nam. Khi đến thành phố
L, Vi Tú X gặp một người đàn ông mới quen khác (không biết họ, tên, địa chỉ)
khoảng 40 tuổi, tạng người to, béo và nói được tiếng Trung Quốc. Vi Tú X cùng
người này đi đến ngôi nhà hoang trước đó thì không còn thấy 02 chiếc áo mà Vi
Tú X đã để lại trước đó. Vi Tú X cùng người đàn ông ngủ tại ngôi nhà hoang
cho đến rạng sáng ngày hôm sau thì chia nhau đi trộm cắp tài sản. Khi Vi Tú X
đang thực hiện hành vi tìm kiếm tài sản để trộm cắp trong ngôi nhà dân, tại phố
L, Khu đô thị N, thành phố L thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ.
Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKS-P3 ngày 08/7/2019, Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vi Tú X về tội Trộm cắp tài sản theo khoản
1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Tú X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản
thân như Cáo trạng đã truy tố và xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Lê Văn V vắng mặt tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra, ông Lê
Văn V không yêu cầu bị cáo Vi Tú X phải bồi thường về dân sự cho ông.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo
Vi Tú X. Sau khi phân tích tính chất mức độ của hành vi phạm tội và đề cập
nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong
vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều
173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử
phạt bị cáo Vi Tú X 09 đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là
hình phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn V không yêu
cầu nên không xem xét. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những tài sản không
còn giá trị sử dụng; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 118.000 đồng của
bị cáo do phạm tội mà có; trả lại cho bị cáo các giấy tờ tùy thân và điện thoại di
động do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Vi Tú X đã nhận thức được hành vi phạm tội
của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên
tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Tú X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
bản thân và xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo Vi Tú X tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ sáng ngày 16-3-2019, Vi Tú X đã có hành vi cậy cửa, đột nhập vào nhà anh Lê Văn V ở Khu đô thị N, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và trộm cắp 01 chiếc áo da màu đen nhãn hiệu “POSALEY”; 01 chiếc áo phao màu xám nhãn hiệu “ADIDAS” và 1.800.000 đồng. Tổng số tài sản và tiền anh Lê Văn V bị Vi Tú X lấy trộm là 4.350.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Vi Tú X về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
Bị cáo Vi Tú X là người có đầy đủ năng lực, nhận thức được hành vi
trộm cắp tài sản của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Vi Tú X là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân Việt Nam được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo Vi Tú X mức án thật nghiêm để góp phần giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Theo pháp luật Việt Nam, bị cáo Vi Tú X là người có
nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm kỷ luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vi Tú X
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là công dân
nước ngoài sau khi chấp hành xong hình phạt tù phải trục xuất về nước nên không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Vi Tú X.
Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra và quá trình giải quyết vụ
án, bị hại Lê Văn V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền giá trị tài sản bị mất. Như vậy, anh Lê Văn V tự chấm dứt quyền sở hữu của mình, từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Đây là sự tự nguyện của anh Lê Văn V, căn cứ Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề này.
Về xử lý vật chứng: Những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội và
những vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền
118.000 đồng thu của bị cáo Vi Tú X do hành vi phạm tội mà bị cáo có được
nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Những giấy tờ tùy thân và điện thoại
di động không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên
được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Vi Tú X bị kết án nên
bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vi Tú X, bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 37; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c
khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
I. Về tội danh và hình phạt
1. Tuyên bố bị cáo Vi Tú X phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Vi Tú X 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
24/3/2019.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Vi Tú X.
4. Trục xuất bị cáo Vi Tú X ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam sau khi đã chấp hành xong quyết định của Bản án.
II. Về xử lý vật chứng
1. Tịch thu tiêu hủy
- 02 (hai) thanh kim loại màu trắng dài 06cm x 0,8cm;
- 01 (một) thanh kim loại màu trắng dài 4,6cm x 1,4cm;
- 01 (một) thanh kim loại màu trắng dài 8cm x 1,4cm;
- 01 (một) thanh kim loại màu trắng đường kính 0,2cm;
- 18 (mười tám) thanh kim loại màu trắng dài 4,5cm;
- 01 (một) hình hộp vỏ nhựa màu cam có diện 5,5cm x 1,5cm x 1,5cm;
- 01 (một) hình hộp vỏ nhựa màu cam có diện 6cm x 1,5cm x 1,5cm.
2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước
- Số tiền 118.000 đồng (một trăm mười tám nghìn đồng) đựng trong 01
(một) phong bì có chữ ký của bị can Vi Tú X và các thành phần tham gia niêm phong, đóng dấu đỏ giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn.
3. Trả lại cho bị cáo Vi Tú X
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y66, màu trắng, số IMEI 1
866444035459380, số IMEI 2 8664444035459375 đã qua sử dụng chưa qua kiểm tra chuyên môn;
- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân Trung Quốc số
452727197605182595;
- 01 (một) sổ hộ chiếu Trung Quốc số EF4396102;
- 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C1 số 452727197605182595.
(Các vật chứng trên được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày
09/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn).
III. Về án phí
Bị cáo Vi Tú X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
(ngày 08/8/2019); bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - PV27 CA tỉnh Lạng Sơn; - Cục THADS tỉnh Lạng Sơn; - Trại tạm giam; - Bị cáo (qua Trại tạm giam); - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ; Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Sơn Thái |