- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Chi T phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Chi T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự V; Điều 134 Bộ luật Hình sự V; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự V
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HS-ST Ngày: 28-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Xẹt
2. Bà Huỳnh Thị Lượng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 V 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 02 V 2019 về tội “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 V 2019 đối với bị cáo:
Trương Chi T, sinh V 1996 tại B; giới tính: Nam; nơi thư ng tr : X m 9, xã A, huyện N, tỉnh B; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Th ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 9 12; con ông Trương Chi D, sinh V 1972 và bà H Thị Th, sinh V 1972; bị cáo c 04 chị, em, lớn nhất sinh V 1994, nhỏ nhất sinh V 2010; chưa vợ, con; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 10 2018 cho đến nay; c mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Chi T:
1. Ông H - Luật sư của Văn phòng luật sư H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số 069 A, T 3, Khu phố 2, phư ng U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2. Bà L - Luật sư của Văn phòng luật sư H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số 069 A, T 3, Khu phố 2, phư ng U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; c mặt.
- Bị hại: Ông S, sinh V 1994 (Đã chết).
Đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Ông Y, sinh V 1968 (Cha đẻ); vắng mặt.
2. Bà N, sinh V 1972 (Mẹ đẻ); c mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp Khánh Mỹ, xã Khánh Hoà, huyện Châu Ph , tỉnh An Giang.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà K, sinh V 1999; địa chỉ: Số 157, đư ng Q, Phư ng 1, Quận 8, TP.H Chí Minh (Là đại diện uỷ quyền theo Giấy uỷ quyền ngày 05 11 2018); c mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trương Chi D, sinh V 1972; c mặt.
2. Bà H Thị Th, sinh V 1972; c mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm 9, xã A, huyện N, tỉnh B.
- Người làm chứng:
1. Ông Trương Văn M; c mặt.
2. Ông Đặng Thanh P; vắng mặt.
3. Bà H Thị Thuỳ X; c mặt.
4. Ông Lê Bé V; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Bị cáo Trương Chi T, ông Trương Văn M, ông S, ông Lê Bé V và ông Đặng Thanh P (tên gọi khác: Tèo) cùng làm chung và ở chung tại công trình xây dựng nhà ở của ông Nguyễn Thanh M thuộc khu phố Tân Hội, phư ng TH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 21 gi ngày 08/10/2018, sau khi uống rượu tại một quán cách công trình xây dựng nhà ở của ông M khoảng 200 mét thì ông S, ông V và ông P đi về công trình để nghỉ ngơi. Tại đây, giữa ông Trương Văn M và ông Lê Bé V xảy ra mâu thuẫn cãi nhau lớn tiếng. L c đ , bị cáo T điều khiển xe mô tô đi mua trà sữa về tới công trình và nghe thấy ông M và ông V cãi nhau nên bị cáo T nói với ông V và những ngư i liên quan là đi chỗ khác cãi nhau. Từ đ phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau giữa ông S và bị cáo T. Ông S đi ra đư ng ĐT746 trước cửa công trình xây dựng nhà ở của ông M và lấy điện thoại từ trong t i quần ra gọi điện thoại cho ai đ . Bị cáo T tưởng ông S gọi điện nh ngư i đến đánh nên bị cáo T chạy đến vị trí ông S đang đứng và dùng tay pM đấm vào phần sống mũi của ông S làm ông S ngã ngửa ngư i ra phía sau, phần đầu, lưng, Mg và chân chạm xuống đư ng ĐT746. Bị cáo T nhìn thấy phần sống mũi của ông S chảy nhiều máu và bất tỉnh nên bế ông S vào bộ ván gỗ trong công trình nằm nghỉ r i nh ông V và ông P chở ông S đi cấp cứu. Sau đ , ông V và ông P đã dùng xe mô tô chở ông S đến phòng khám Đ thuộc xã TV, thị xã TU, tỉnh Bình Dương cấp cứu. Tuy nhiên, do bị thương tích nặng nên ông S đã chết vào khoảng 22 gi ngày 08/10/2018.
Sau khi bế ông S vào nằm trên bộ ván gỗ trong công trình, bị cáo T điều khiển xe mô tô của mình đi tìm nơi bán để lấy tiền điều trị cho ông S. Tuy nhiên, không bán xe được nên bị cáo T quay lại công trình. Khi quay lại công trình, bị cáo T nhìn thấy c nhiều ngư i và nghe giọng một ngư i phụ nữ n i lớn về việc bị cáo T giết chết ông S nên bị cáo T sợ và chạy xe mô tô đến bến xe Lam H ng bán chiếc xe mô tô của mình cho một ngư i phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 500.000 đ ng. Sau đ , bị cáo T đ n xe khách về quê tại Xóm 9, xã A, huyện N, tỉnh B. Ngày 11/10/2018, bị cáo T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh B đầu th và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 800 PC09–GĐPY ngày 10 10 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của ông S là do chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ, dập não, xuất huyết não).
Tại Công văn số 80 CV-PC09 ngày 26 3 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương xác định các vết thương của bị hại S, cơ chế hình thành vết thương và hậu quả của từng vết thương như sau:
- Bị hại S c các vết thương g m: U tụ máu trái phải (ký hiệu 01); u tụ máu chẩm phải (ký hiệu 02); xây sát da vùng cột sống, thắt lưng và Mg (ký hiệu 03); dập, rách, tụ máu sống mũi kích thước 04cm x 03cm, rách da vùng sống mũi hình vòng cung kích thước 02cm x 2,5cm (ký hiệu 04).
- Về cơ chế hình thành vết thương: Các vết thương (ký hiệu 01), (ký hiệu 02) và (ký hiệu 03) được hình thành do cơ thể nạn nhân tiếp x c với vật c bề mặt phẳng, cứng, thô nhám như mặt đư ng, vỉa hè…gây lên. Vết thương (ký hiệu 04) do cơ thể nạn nhân tiếp x c với vật cứng, c đầu cạnh nhỏ như kẽm lưới B40…gây lên.
- Hậu quả của từng vết thương như sau: Vết thương vùng chẩm pM (ký hiệu 02) gây vỡ xương hộp sọ từ thái dương phải qua chẩm phải, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết não, dập não. Vết thương (ký hiệu 02) là nguyên nhân chính gây lên cái chết cho nạn nhân. Các vết thương khác chỉ gây xây sát da bên ngoài, tụ máu nhẹ, không gây tử vong cho nạn nhân.
Cáo trạng số 35/CT-VKS-TU ngày 26 tháng 02 V 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trương Chi T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Trương Chi T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình b i thư ng khắc phục hậu quả; sau khi phạm tội đã ra đầu th ; là ngư i dân tộc thiểu số sống ở miền n i nên nhận thức về pháp luật c phần hạn chế và c ông nội là ngư i c công với cách mạng. Do đ , bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b và s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; các điểm b và s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Chi T từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Trương Chi D (Là cha của bị cáo T) đã b i thư ng cho đại diện bị hại số tiền 35.000.000 đ ng (Ba mươi lăm triệu đồng). Tại phiên toà, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo b i thư ng thêm nhưng bị cáo tự nguyện b i thư ng thêm số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đồng) nên đề nghị Hội đ ng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Không yêu cầu Hội đ ng xét xử đề cập giải quyết.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Chi T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Bị cáo T, ông S, ông Trương Văn M, ông Lê Bé V và ông Đặng Thanh P cùng làm chung tại công trình xây dựng nhà ở của ông Nguyễn Thanh M tại khu phố Tân Hội, phư ng TH, thị xã TU. Khoảng 21 gi 00 ph t ngày 08 10 2018, khi thấy ông Trương Văn M cãi nhau với ông S và ông Lê Bé V, sợ chủ nhà nghe thấy và trách nên bị cáo T can ngăn và n i mọi ngư i đi chỗ khác cãi nhau. Từ đ giữa bị cáo T và ông S xảy ra cãi nhau. Ông S đe doạ sẽ gọi ngư i đến đánh bị cáo T và ông Trương Văn M. Vì vậy, khi thấy ông S đi ra phía trước cửa công trình xây dựng nhà ở của ông M và gọi điện thoại, tưởng là ông S gọi ngư i đến đánh nên bị cáo T chạy đến chỗ ông S đứng và dùng nắm tay phải đấm vào sống mũi của ông S làm ông S ngã ngửa ra nền đư ng ĐT 746. Thấy ông S bất tỉnh và chảy máu mũi, bị cáo T đã bế ông S vào nằm trên bộ ván gỗ trong công trình xây dựng nhà ở của ông M r i nh ông Lê Bé V và mọi ngư i đưa ông S đi cấp cứu. Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình đến xin lỗi và b i thư ng cho đại diện bị hại số tiền 35.000.000 đ ng để lo mai táng. Tại phiên toà, đại diện bị hại không yêu cầu b i thư ng thêm nhưng bị cáo tự nguyện b i thư ng thêm số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đồng) để khắc phục một phần hậu quả.
Quá trình điều tra và tại phiên toà đại diện bị hại trình bày: Thống nhất với nội dung cáo trạng đã nêu. Ông Trương Chi D (Là cha của bị cáo T) đã b i thư ng cho đại diện bị hại số tiền 35.000.000 đ ng để lo mai táng. Tại phiên toà, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo b i thư ng thêm chỉ yêu cầu xử phạt bị cáo nghiêm khắc, đ ng pháp luật để trả lại công bằng cho gia đình bị hại.
Quá trình điều tra và tại phiên toà ngư i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Chi D và bà H Thị Th trình bày: Ông D và bà Th là cha mẹ đẻ của bị cáo Trương Chi T. Được sự tác động của bị cáo T, ông D đã b i thư ng khắc phục hậu quả cho đại diện bị hại với số tiền 35.000.000 đ ng. Số tiền 35.000.000 đ ng nêu trên là tài sản chung của ông D và bà Th. Ông D và bà Th không yêu cầu bị cáo T và đại diện bị hại trả lại số tiền nêu trên.
Tại phiên toà, ngư i bào chữa cho bị cáo T trình bày: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt theo nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, Viện kiểm sát chưa xem xét nguyên nhân và bối cảnh dẫn đến việc phạm tội của bị cáo và việc bị hại chết, cũng như chưa xem xét những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo T như sau:
Việc bị cáo T đánh ông S c một phần nguyên nhân là do bị hại đã sử dụng rượu bia, không kiềm chế được nên khi cãi nhau thì bị hại c l i lẽ đe doạ sẽ gọi ngư i đến đánh bị cáo. Khi bị hại ra đư ng ĐT 746 gọi điện thoại thì bị cáo tưởng là bị hại gọi ngư i đến đánh nên bị cáo đã chạy ra dùng tay đánh vào sống mũi của bị hại làm cho bị hại ngã ra đư ng. Khi thấy bị hại ngã thì bị cáo bế bị hại vào nằm trên bộ ván gỗ trong công trình xây dựng và nh mọi ngư i đưa bị hại đi cấp cứu. Tuy nhiên, ông Lê Bé V n i ch gia đình ông S đến nên không cho mọi ngư i đưa bị hại đi cấp cứu kịp th i. Khoảng 20 ph t sau khi sự việc xảy ra, ông V mới đưa bị hại đi cấp cứu nhưng khi ông V bế ông S ra đư ng thì ông V bị ngã và mặt ông S va vào hàng rào lưới B40 và cột sắt dẫn đến ông S tiếp tục bị thương và chảy nhiều máu. Khi đến phòng khám Đ thì ông S cũng chưa được cấp cứu tích cực mà chỉ được sơ cứu và ch chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Hậu quả là khoảng 22 gi ngày 08 10 2018 ông S đã chết tại phòng khám Đ. Như vậy, hậu quả bị hại chết là do bị hại không được cấp cứu kịp th i và còn do các vết thương khác gây nên chứ không pM hoàn toàn do bị cáo T gây ra.
Ngoài ra, bị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình b i thư ng khắc phục hậu quả; c nhân thân tốt, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; sau khi phạm được gia đình tác động bị cáo đã ra đầu th ; là ngư i dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình kh khăn nên nhận thức pháp luật c phần hạn chế; c ông nội là ngư i c công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương. Ngoài ra, bị hại cũng c một phần lỗi khi đe doạ gọi ngư i đến đánh bị cáo.
Bị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ như sự phân tích trên. Do đ , đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Trương Chi T được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần trình bày l i n i sau cùng, bị cáo T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , Hội đ ng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là đ ng thẩm quyền và đ ng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và khung hình phạt: L i khai của bị cáo Trương Chi T tại phiên tòa phù hợp với l i khai của bị cáo T tại cơ quan điều tra, thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định pháp y, các chứng cứ khác c trong h sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đ ng xét xử c căn cứ kết luận:
Khoảng 21 gi 00 phút ngày 08 tháng 10 V 2018, tại đoạn đư ng ĐT 746 phía trước công trình xây dựng nhà ở của ông Nguyễn Thanh M thuộc khu phố Tân Hội, phư ng TH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trương Chi T đã dùng tay pM đánh vào vùng mặt của ông S làm cho ông S bị dập, rách sống mũi và ngã ngửa ra nền đư ng ĐT 746 dẫn đến bị chấn thương sọ não, xuất huyết não và sau đ tử vong.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khoẻ của ngư i khác mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là ngư i đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho ngư i khác là vi phạm pháp luật hình sự. Nhưng vì thái độ coi thư ng pháp luật mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại dẫn đến việc bị hại c thương tích và sau đ chết. Tuy nhiên, bị cáo chỉ mong muốn gây thương tích cho bị hại, không mong muốn tước đoạt D mạng của bị hại. Hậu quả bị hại chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình b i thư ng khắc phục hậu quả. Trước khi phạm tội bị cáo c nhân thân tốt; đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; là ngư i dân tộc thiểu số sống ở miền n i và hoàn cảnh gia đình kh khăn nên nhận thức về pháp luật c phần hạn chế; c ông nội là ngư i c công với cách mạng. Ngoài ra, bị hại cũng c một phần lỗi khi c l i lẽ đe dọa gọi ngư i đến đánh bị cáo. Do đ , bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b và s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với D chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.
Xét, ý kiến của ngư i bào chữa cho bị cáo tại phiên toà, Hội đ ng xét xử thấy:
Đối với ý kiến phân tích về nguyên nhân, bối cảnh dẫn đến việc phạm tội của bị cáo, về việc bị hại chết c một phần nguyên nhân từ việc cấp cứu, điều trị không kịp th i cũng như về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là c căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đ ng xét xử chấp nhận và xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Tuy nhiên, đối với ý kiến của ngư i bào chữa về việc hậu quả bị hại chết còn do các vết thương khác không pM do bị cáo T gây ra là không c căn cứ chấp nhận vì lý do tại Công văn số 80 CV-PC09 ngày 26 3 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương xác định vết thương vùng chẩm pM gây vỡ xương hộp sọ từ thái dương pM qua chẩm pM, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết não, dập não. Vết thương này là nguyên nhân chính gây lên cái chết cho bị hại S. Các vết thương khác chỉ gây xây sát da bên ngoài, tụ máu nhẹ, không gây tử vong cho nạn nhân.
Đối với ý kiến của ngư i bào chữa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, Hội đ ng xét xử thấy không c căn cứ chấp nhận vì hậu quả chết ngư i là rất nghiêm trọng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo b i thư ng thêm nhưng bị cáo tự nguyện b i thư ng thêm số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đồng). Xét thấy ý kiến của bị cáo là tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584 và 591 của Bộ luật dân sự nên Hội đ ng xét xử ghi nhận.
Tại phiên toà ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trương Chi D và bà H Thị Th không yêu cầu giải quyết về số tiền 35.000.000 đ ng đã b i thư ng thay cho bị cáo nên Hội đ ng xét xử không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra không thu giữ vật chứng nên Hội đ ng xét xử không đề cập giâỉ quyết.
Về việc xem xét việc áp dụng, thay đ i hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn: Hội đ ng xét xử thấy cần tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội bị kết án và pM b i thư ng thiệt hại nên pM chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 135, 136, 268, 269, 298, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự V 2015;
- Căn cứ vào các Điều 38 và 48; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự V 2015, sửa đ i b sung V 2017;
- Căn cứ vào các Điều 584 và 591 của Bộ luật Dân sự V 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Chi T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Chi T 07 (Bảy) năm tù, th i hạn phạt tù D từ ngày 11 tháng 10 năm 2018.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Chi T pM b i thư ng cho đại diện bị hại là ông Y và bà N số tiền 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đồng).
Kể từ khi bản án c hiệu lực pháp luật, ngư i được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngư i pM thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại th i điểm thanh toán, tương ứng với th i gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự V 2015 cho đến khi thi hành án xong.
4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trương Chi T phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đ ng (Một triệu đ ng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và ngư i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án c mặt tại phiên toà c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pM thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - PV06, Công an tỉnh Bình Dương (01); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã TU (01); - Công an thị xã TU (03); - Chi cục THADS thị xã TU (01); - Ngư i tham gia tố tụng (04); - Lưu: VT, HS (02). HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI THẨM NHÂN DÂN Đào Văn Nô Huỳnh Thị Lượng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn Hưng THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Văn Hưng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Văn Hưng |