vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Tuyên án 12/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2019. Về án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2019/HS-ST
Ngày 10-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thái Quân.

Ông Huỳnh Văn Sức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Đam – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983, tại huyện Châu Ph, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp Bình H, xã Bình L, huyện Châu Ph, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: ấp Bình Q 2, xã B Th Đ, huyện Phú T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị Đ sinh năm 1943; vợ Nguyễn Thị Th sinh năm 1984; con có 03 người lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2019 cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Anh Lê Văn Ng, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp Bình Q 2, xã B Th Đ, huyện Phú T, tỉnh An Giang ( có mặt).

Người làm chứng : Ông Nguyễn Văn D sinh năm 1946, chị Nguyễn Thị Th sinh năm 1984 cùng địa chỉ ấp Bình Q 2, xã B Th Đ, huyện Phú T, tỉnh An Giang (có mặt), chị Nguyễn Thị Kim D sinh năm 1975 địa chỉ ấp Phú H, xã Phú X, huyện Phú T, tỉnh An Giang(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 ngày 18/10/2010, Nguyễn Thanh T uống rượu cùng với Lê Văn Ng, Đinh Văn V (Nh), Lê Văn H, Nguyễn Văn L, N và Kh (không có ở địa phương) tại khu vực nhà của ông Nguyễn Văn D (cha vợ T) thuộc ấp Bình Q 2, xã B Th Đ, huyện Phú T. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, tất cả nghỉ uống và đi về nhà. Khi T về đến nhà ông D, cách đó khoảng 50 mét, thấy T đã uống rượu bia nên Nguyễn Thị Th (vợ T) cự cãi. Tức giận, T chửi thề và bỏ ra Tỉnh lộ 945, đi bộ về hướng phà Năng Gù. T đi đến trước nhà của Lê Văn Ng cách nhà ông D khoảng 70 mét. Lúc này, Ng đang ngồi trong nhà nghe T chửi thề nên đi ra khuyên can và đẩy T trở lại hướng nhà của ông D. Nhưng T không nghe nên hai bên xô đẩy nhau. Lê Văn M (em ruột Ng) nhìn thấy tưởng T và Ng đánh nhau nên chạy đến dùng tay đánh T. Vũ và Kha can ngăn, đồng thời ông D cũng đến khuyên can nên T bỏ về nhà. Khi về đến nhà, T ra sau nhà bếp gặp Th nói lại việc bị Mến đánh. Lúc này, Ng đi đến đứng cặp lề đường, phía trước cầu thang cách nhà ông D khoảng 10 mét, kêu T ra để nói chuyện. Tức giận, T ra hàng ba nhà, lấy cây kéo để trong giỏ xách của Thảo (sử dụng vào việc làm cá bán hàng ngày) bỏ vào túi quần bên phải, chạy đến đứng đối diện với Ng, tay phải lấy kéo đâm nhiều cái, hướng từ dưới lên, trúng vùng bụng của Ng. Ông D đến can và thấy T cầm cây kéo chạy lên cầu thang ném bỏ (không thu được cây kéo). Thảo đứng trên hàng ba nhà nhìn thấy T xô xát với Ng. Sau đó, T bỏ chạy lên cầu thang, còn Ng đi bộ được khoảng 02 - 03 mét thì quỵ xuống đất. Lúc này, Lê Văn C chạy đến hỏi thì được Ng cho biết bị T đâm nên cùng với Đinh Văn V, Từ Phước T đưa Ng về nhà. Sau đó, Ng được ông D và Nguyễn Văn Lâm đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Phú Tân cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang và Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Đến ngày 26/10/2010, Ng xuất viện.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, T bỏ trốn và làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, T có điện thoại nhờ chị ruột là Nguyễn Thị Thùy Linh đến Bệnh viện Chợ Rẫy thăm và đưa cho Ng 9.000.000 đồng để hỗ trợ chi phí, tiền thuốc điều trị thương tích cho Ng. Sau khi được gia đình vận động, T đã đến Công an đầu thú và khai nhận hành vi dùng cây kéo đâm Ng.

Tại Biên bản giám định pháp y số 65/BBPY ngày 04/3/2011 của Tổ chức Giám định Pháp y và Pháp y tâm thần tỉnh An Giang, ghi nhận thương tích của Lê Văn Ng như sau: “Vết thương hông lưng trái trên đường nách sau sẹo 1.8 x 0.2, vết thương vùng bẹn trái sẹo 02 x 0.3 cm, thấu bụng, thủng dạ dày 02 lổ, thủng đầu tụy, thủng hỗng tràng 18 lỗ. Tỷ lệ thương tật 81%.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Lê Văn Ng và những người làm chứng Nguyễn Thị Th, Nguyễn Văn D, Lê Văn M, Nguyễn Văn L, Đinh Văn V (Nh), Lê Văn H, Lê Văn C và Từ Ph Tân trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Anh Ng cho biết sau khi bị T đâm gây thương tích thì anh điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh chi phí khoảng 22.000.000 đồng. Anh đã nhận 9.000.000 đồng từ gia đình T hỗ trợ tại Bệnh viện và đã thỏa thuận nhận thêm 20.000.000 đồng của vợ T nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Hiện nay, Ng đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An giang truy tố Nguyễn Thanh T tại cáo trạng số 34/VKS-HS ngày 11/11/2019, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm d, Khoản 4, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có ý kiến giữ Ng cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị HĐXX: Áp dụng Điểm d, Khoản 4, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Bị cáo Nguyễn Thanh T có ý kiến thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát và ý kiến phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/10/2010, do trong người có uống rượu và tức giận việc bị anh Lê Văn Mến em ruột của Lê Văn Ng đánh nên T có dùng cây kéo đâm nhiều nhát vào vùng bụng của anh Ng gây thương tích như vụ án đã nêu ở trên. Lời nhận tội của bị cáo T hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo cầm cây kéo là hung khí nguy hiểm, đâm gây thương tích cho anh Lê Văn Ng, tỉ lệ thương tật 81% là hành vi nguy hiểm cho xã hội và có đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cố ý gây thương tích” quy định trong Bộ luật hình sự. Do hành vi của bị cáo T xảy ra vào năm 2010, lẽ ra phải áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 nhưng so sánh với Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì khung hình phạt quy định nhẹ hơn là từ 7 năm đến 14 năm, căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; công văn 276 /TANDTC – PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao theo hướng có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử thống nhất với Cáo trạng số 34/VKS-HS ngày 11/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân và ý kiến luận tội của Kiếm sát viên tham gia phiên tòa về việc xác định bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d, khoản 4, Điều 134 của BLHS 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét về Ng nhân phạm tội và tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tính mạng và sức khỏe của con người là vốn quí nhất trong xã hội nên được mọi người tôn trọng và luôn được pháp luật bảo vệ, những hành vi trái pháp luật xâm phạm và làm tổn hại đến sức khỏe của người khác thì sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thanh T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc dùng cây kéo nhọn đâm gây thương tích cho anh Lê Văn Ng là vi phạm pháp luật, nhưng do xuất phát từ việc xem thường pháp luật và không biết tôn trọng sức khỏe của người khác nên đã thúc đẩy bị cáo thực hiện và gây ra hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đây cũng là Ng nhân và động cơ phạm tội của bị cáo. Trước lúc phạm tội thì giữa bị cáo T và anh Ng có cự cãi với nhau và T có bị anh Mến em của anh Ng đánh nhưng chưa đến mức nghiêm trọng và sự việc cũng đã được can ra, nếu như lúc đó bị cáo T biết kiềm chế trong suy nghĩ và trong hành động của bản thân, rồi tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách hợp lý và hợp tình thì sự việc sẽ được êm xuôi, thế nhưng bị cáo không thực hiện được điều đó, mà lại hành xử một cách hung hăng, bất chấp pháp luật và không tôn trọng đến sức khỏe của người khác, bị cáo T đã thực hiện hành vi dùng cây kéo có mũi nhọn đâm nhiều nhát vào vùng bụng gây thương tích cho anh Ng. Hành vi của bị cáo T không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của anh Ng, mà còn gây mất trật tự ở địa phương, do đó cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo T để răn đe, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung loại tội phạm này ở địa phương.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Lẽ ra bị cáo phải đầu thú để hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước, trái lại bị cáo bỏ trốn, làm cho công tác điều tra gặp khó khăn. Cho thấy bị cáo liều lĩnh, bất chấp pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo T có nhờ gia đình đến Bệnh viện thăm và đưa cho bị hại Ng số tiền 9.000.000 đồng để hỗ trợ chi phí cho thấy bị cáo cũng nhận thức được việc làm sai trái của mình. Bị cáo Nguyễn Thanh T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cụ thể là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo có bồi thường số tiền điều trị thương tích cho bị hại; bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo là lao động chính trong gia đình còn có 3 con nhỏ, quá trình điều tra và trước phiên tòa bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy xét thấy bị cáo nhất thời phạm tội, mối quan hệ giữa bị cáo và bị hại là bạn bè, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên hội đồng xét xử áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn Ng đã nhận đủ số tiền bồi thường từ phía gia đình bị cáo nên không yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ném bỏ cây kéo không thu được, cơ quan điều tra truy tìm và nhận dạng cây kéo, có lập biên bản, bản ảnh kèm theo nên HĐXX không đề cập đến.

Về án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d Khoản 4, Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136; Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2019.

2.Về án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ