- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 46 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HS - ST Ngày: 09 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ – Thư ký Toà án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:
Bà: Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2019/TLST- HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị T – sinh năm 1990; huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Thợ may; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Thương (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nhỏn (đã chết); Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/7/2019 đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Lê Thị Th – sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Cái Bát, xã Hòa Mỹ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 18/6/2019 Lê Thị T ở khóm 4, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời đến nhà của em ruột tên Lê Thanh Sẵn ở ấp cái Bát, xã Hòa Mỹ, huyện C để thăm cha ruột là ông Lê Văn Thương đang bị bệnh.
Khi đến nhà anh Sẵn, lúc này trong nhà chỉ có ông Thương nằm ở nhà trên và cháu Lê Thúy Duy, sinh ngày 08/9/2005 (con anh Sẵn) đang ở nhà sau. T đưa cho Duy 200.000 đồng đi trả nợ cho người hàng xóm, Duy vừa đi khỏi, T thấy trong người khó chịu nên đến chỗ cái bàn gần bếp tìm thuốc uống thì phát hiện trong cái hộp cờ vua để trong cái rổ màu vàng trên bàn có một túi vải màu đỏ, kiểm tra bên trong thấy có 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly của chị Huỳnh Thị Th (vợ anh Sẵn) nên T nảy sinh ý định lấy trộm số tài sản trên đem bán lấy tiền trả nợ. T lấy tài sản giấu vào túi quần đang mặc rồi ra võng ngoài hành lang nhà sau nằm.
Khoảng 05 phút sau Duy về và xuống bếp nấu nước, T tiếp tục đi tìm thuốc uống, nghe tiếng động chỗ cái bàn nơi cất vàng, Duy đi lên xem thì T bỏ đi, thấy nghi ngờ, Duy đến kiểm tra thì phát hiện toàn bộ số vàng đã bị mất nên gọi điện báo cho chị Th, anh Sẵn hay, sau đó chi Th trình báo chính quyền địa phương đến lập biên bản và mời T về Công an xã Hòa Mỹ làm việc và T đã giao nộp lại toàn bộ số vàng trên.
Vật chứng liên quan đến vụ án thu hồi được gồm:
- 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 li;
- 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ 05 phân.
Tại kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, kết luận: Tổng trị giá tài sản bị can T lấy trộm của chị Th là 28.105.400 đồng (Hai mươi tám triệu một trăm không năm nghìn bốn trăm đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị T khai nhận: Do thấy cái hộp có đựng 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly của chị Huỳnh Thị Th (vợ anh Sẵn) nên T nảy sinh ý định lấy trộm số tài sản trên đem bán lấy tiền trả nợ. Bị cáo biết hành vi lén lúc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do nhất thời nổi lòng tham nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 39/QĐ-VKS ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Lê Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C cho rằng: Ngày 18/6/2019, Lê Thị T có hành vi lén lúc lấy trộm 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly của chị Huỳnh Thị Th 45.500.000 đồng, theo kết luận định giá tài sản tổng số tiền 28.105.400 đồng là có xảy ra. Do đó, đề nghị Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.
Đối với người bị hại Huỳnh Thị Th trong quá trình điều tra đã nhận lại số tiền là 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly. Hiện nay không yêu cầu bị cáo T bồi thường tiếp, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Chị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa xét xử vắng mặt chị Th theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Thị T nói lời nói sau cùng trước Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa tuyên án. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện điều trị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 13 giờ ngày 18/6/2019, lợi dụng trong nhà không có người, bị cáo Lê Thị T lén lúc lấy trộm 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly của chị Th là thực tế có xảy ra, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo T phù hợp với lời khai của người bị hại, hiện trường vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thị T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác trái pháp luật, trong vụ án này bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp với quyết tâm cao thể hiện là bị cáo có hành vi lén lúc lấy trộm 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly của chị Th. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; gây tâm lý lo âu cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Đặc biệt tình hình trộm cắp trên địa bàn huyện C đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng, gây bức xúc trong nhân dân và được chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm trong thời gian qua.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa sẽ xem xét, cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về Trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị T đã nhận lại tài sản là 01 chiếc nhẫn vàng 24k, trọng lượng 2,5 chỉ và 01 sợi dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ 02 phân 02 ly, hiện chị Th không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không đặt ra xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo Lê Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại Huỳnh Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- VKSND huyện C;
- Công an huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- Bị cáo; Bị hại;
- Lưu hồ sơ.
Huỳnh Minh Tính TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CÁI NƯỚC
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU Số: 01/2018/TB – TA
C, ngày 29 tháng 01 năm 2018
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ vào các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2018/HS-ST ngày 09/01/2018 có lỗi chính tã, nhầm lẫn, cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
1. Về nội dung tại dòng 22 , trang số 3 từ trên xuống của bản án 01/2018/HS-ST ngày 09/01/2018 có ghi: …áp dụng khoản 1 Điều 205, điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự,…
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: …áp dụng khoản 1 Điều 205, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự,…
2. Tại dòng 12, 14 trang số 02 của bản án nêu trên có ghi: … đi làm, không đi nhờ xe của bạn được nên khi Cật gọi điện hỏi mượn xe môt ô 69E1.255.49 thì Hận liền đồng ý cho Cật mượn xe. Bị cáo Trần Văn Hận biết rõ hành vi giao xe môt ô biển số 69E1-255.49 có dung tích xi lanh 109,1 cm3 cho Trần Văn Hận …
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: … đi làm, không đi nhờ xe của bạn được nên khi Cật gọi điện hỏi mượn xe mô tô 69E1.255.49 thì Hận liền đồng ý cho Cật mượn xe. Bị cáo Trần Văn Hận biết rõ hành vi giao xe mô tô biển số 69E1-255.49 có dung tích xi lanh 109,1 cm3 cho Trần Văn Hận …
3. Tại dòng 1, 8 trang 5 từ trên xuống bản án nêu trên có ghi: …Bộ luật hình sự năm 1999 được sử đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ pháp luật…. Điều 205 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sử đổi bổ sung năm 2009 mà Viện kiểm..
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: : …Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ pháp luật…. Điều 205 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 mà Viện kiểm..
4. Tại dòng 05 trang 5 từ dưới lên bản án nêu trên có ghi:… điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sử đổi bổ sung năm 2009.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: :… điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện C; - Cơ quan điều tra Công an huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã Hưng Mỹ, huyện C; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân TOÀ ÁN NHÂN DÂN NAM HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU BIEÂN BAÛN NGHÒ AÙN TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CAÙI NÖÔÙC Vôùi Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù: Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Trần Nhủ Khuyên Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hành Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C Ông Nguyễn Quốc Trung Nơi công tác: Phòng nông nghiệp huyện C Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự; đã tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự bị cáo Lâm Văn Xuân. sôû xem xeùt ñaày ñuû toaøn dieän caùc chöùng cöù, yù kieán cuûa Kieåm saùt vieân, bò caùo taïi phieân toøa; Hoäi ñoàng xeùt xöû thaûo luaän veà nhöõng vaán ñeà phaûi giaûi quyeát trong vuï aùn nhö sau: sản”. 2. Về Điều luật áp dụng: khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Áp dụng: Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. tính kể từ ngày 18 tháng 10 năm 2017. 4. Về các vấn đề khác: thi hành án dân sự huyện C khi án có hiệu lực pháp luật. có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 Các Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Hành Nguyễn Quốc Trung | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn A Đam Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc C, ngày 31 tháng 10 năm 2017 Vào ngày 31 tháng 10 năm 2017 tại khu vực nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm Caên cöù vaøo caùc chöùng cöù vaø taøi lieäu ñaõ ñöôïc thaåm tra taïi phieân toøa, treân cô 1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn Xuân phạm tội “Trộm cắp tài Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 3. Về mức hình phạt: Bị cáo Lâm Văn Xuân 01 năm tù. Thời hạn tù được Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Nộp tại Chi cục Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Nhủ Khuyên |