vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc b cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguy n Văn O 4.

Bồi thường cho ông Nguy n Tấn T 3.000.000 (ba triệu) đồng; Bồi thường cho ông Thái Văn L 3.000.000 (ba triệu) đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Nguyễn Phúc Hậu (Đ 173) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Buộc b cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguy n Văn O 4.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 39/2019/HS-ST
Ngày 17 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N1 VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sáu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Phu;

2. Bà Nguy n Th Tuy t i.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguy n Thi t Bảnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại Trung tâm Thương mại An Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019, theo Quy t đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 121/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2019, đối với b cáo:

Nguyễn P H, sinh năm 1991; tại An Phú, An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp PT, xã ĐP, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Trần Văn TH, sinh năm 1970 và Nguy n Th D H, sinh năm 1972 (cha dượng là ông Cao C S); anh ch em có 02 người, b cáo là người thứ lớn nhất.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Đã b áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quy t đ nh số 05/2015/QĐ-TA ngày 24 tháng 8 năm 2015.

B tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2019 cho đ n nay; có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

1/ Ông Nguy n Văn O, sinh năm 1968; đ a chỉ: Ấp Phước thọ, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

2/ Ông Nguy n Tấn T, sinh năm 1991; đ a chỉ: Khóm Châu Long 1, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. 3/ Ông Thái Văn L, sinh năm 1971; đ a chỉ: Khóm Châu Thới 2, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. 4/ Ông Phạm Văn G, sinh năm 1980; đ a chỉ: Ấp An Thạnh, th trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang. 5/ Bà Nguy n Th N, sinh năm 1983; đ a chỉ: Ấp Phước Quản, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang. 6/ Ông Lê Hoàng P, sinh năm 1993; đ a chỉ: Ấp An Th nh, th trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1/ Bà Trần Thanh H1, sinh năm 1980; đ a chỉ: Ấp Vĩnh Bảo, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. 2/ Bà Huỳnh Th D, sinh năm 1971; đ a chỉ: Khóm 2, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. 3/ Bà Võ Th Bảo Thúy, sinh năm 1979; đ a chỉ: Ấp An Thạnh, th trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang. 4/ Ông La Quang N1, sinh năm 1979; đ a chỉ: Ấp Khánh Lợi, xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. 5/ Bà Thái Ngọc G1, sinh năm 1970; đ a chỉ: Khóm 1, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng: Bà Phạm Trần Ngọc D, sinh năm 1985; Bà Lê Th L1, sinh năm 1967. Tại phiên tòa, tất cả b hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và di n bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 24/3/2019, Nguy n P H đi xe buýt từ thành phố Châu Đốc đ n huyện An Phú để tìm xe môtô chi m đoạt. Khi đ n khu vực nhà của anh Lê Hoàng P (ấp An Th nh, th trấn An Phú, huyện An Phú), phát hiện nhà không ai trông coi, trong nhà có xe mô tô BKS 67G1 – 311.32 vẫn còn chìa khóa khởi động nên H lẻn vào nhà chi m đoạt, rồi điều khiển xe đ n d ch vụ cầm đồ Kim Phụng (thuộc khóm 2, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc) th chấp được 12.000.000 đồng tiêu xài h t. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, anh P phát hiện xe b mất nên đ n Công an trình báo sự việc.

Sau khi xác minh, Công an ti n hành mời H về trụ sở làm việc. Qua làm việc, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, H khai nhận còn thực hiện thêm 05 vụ trộm xe môtô trên đ a bàn huyện An Phú và thành phố Châu Đốc. Cụ thể:

- Ngày 13/03/2019, lén lút chi m đoạt xe môtô BKS 67N4 – 5519 của anh Nguy n Văn O (tại khu vực ấp Phước Thọ, xã Đa Phước, huyện An Phú). Sau khi lấy trộm, H điều khiển xe đ n nhờ Nguy n Thiện M1 ngụ huyện T nh Biên bán dùm được 400.000 đồng, rồi cả hai tiêu xài h t.

- Ngày 16/03/2019, lén lút chi m đoạt xe môtô BKS 67K4 – 3430 của anh Nguy n Tấn T (tại khu vực khóm Châu Long 1, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc). Sau khi lấy trộm, H điều khiển xe đ n huyện T nh Biên nhờ M1 bán dùm được 900.000 đồng, rồi cả hai tiêu xài h t.

- Ngày 18/03/2019, lén lút chi m đoạt xe môtô BKS 67K5 – 2935 của anh Thái Văn L (tại khu vực khóm Châu Thới 2, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc). Sau khi lấy trộm, H điều khiển xe đ n phường Núi Sam, nhờ M1 điều khiển xe vào th trấn T nh Biên, huyện T nh Biên bán dùm được 300.000 đồng, rồi cả hai tiêu xài h t.

- Ngày 19/03/2019, lén lút chi m đoạt xe môtô BKS 67C1 – 3121 của anh Phạm Văn G (tại khu vực khóm 5, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc). Sau khi lấy trộm, H điều khiển xe đ n khu vực xã Vĩnh Trinh giáp Quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ bán cho 01 người chạy xe Honda đò không bi t họ tên và đ a chỉ với giá 8.000.000 đồng, rồi tiêu xài h t.

- Ngày 22/03/2019, lén lút chi m đoạt xe môtô BKS 1I – 2344 của ch Nguy n Th N (tại khu dân cư ấp Phước Quản, xã Đa Phước, huyện An Phú). Sau khi lấy trộm, H điều khiển xe đ n nhờ M1 bán dùm được 4.000.000 đồng, rồi cả hai tiêu xài h t.

Căn cứ các K t luận về việc đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự số 14/KL-ĐGTSTTHS ngày 01/4/2019, 17/KL-ĐGTSTTHS ngày 02/5/2019 và 18/KL-ĐGTSTTHS ngày 02/5/2019 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Phú, tỉnh An Giang, xác đ nh:

- Xe môtô hai bánh, biển số 67G1–311.32, nhãn hiệu HONDA, loại Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen-bạc, số khung RLHHC1254FY120578, số máy HC12E7120610, đã qua sử dụng. Giá tr đ nh giá 14.000.000 đồng.

- Xe môtô hai bánh biển số 67N4 – 5519, do Trung Quốc sản xuất, đã qua sử dụng. Giá tr đ nh giá 4.000.000 đồng.

- Xe môtô BKS số 1I-2344 (PHNOM PENH), nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, số khung NF125MC-0027034, số máy NF125MCE-0027034, đã qua sử dụng. Giá tr đ nh giá 12.000.000 đồng.

Căn cứ các K t luận về việc đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự số 147/KL-ĐG ngày 09/4/2019, 148/KL-ĐG ngày 09/4/2019 và 160/KL-ĐG ngày 22/4/2019 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, xác đ nh:

- Xe môtô hiệu Excel, số loại C150, màu trắng, biển số kiểm soát 67K5 – 2935, số khung 004021, số máy 004021, đã qua sử dụng. Giá tr đ nh giá 3.000.000 đồng.

- Xe môtô hiệu Honda, số loại Wave Alpha, biển số kiểm soát 67C1– 3121, màu sơn xanh, số máy 0349069, số khung 348862, đã qua sử dụng. Giá tr đ nh giá 7.000.000 đồng.

- Xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY, số loại C100, biển số kiểm soát 67K4 – 3430, màu sơn đỏ, số máy 068717, số khung 068717, đã qua sử dụng. Giá tr đ nh giá 3.000.000 đồng. Tổng giá tr đ nh giá cả 06 xe: 43.000.000 đồng Ngày 02/04/2019, Nguy n P H b khởi tố điều tra. Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi xe mô tô biển số 67G1 – 311.32 và đã trao trả cho ông Lê Hoàng P ngày 15/3/2018. Các xe còn lại không thu hồi được, những người b hại có yêu cầu b cáo bồi thường giá tr tài sản mất trộm; bà Huỳnh Th D (Chủ D ch vụ cầm đồ “Kim Phụng”) yêu cầu b cáo trả lại số tiền cầm xe BKS 67G1 – 311.32 là 12.000.000 đồng. Cáo trạng số: 35/VKS-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố b cáo Nguy n P H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, b cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Do muốn có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài, khi nghe Nguy n Thiện M1 nói “làm” được thì đem cho M1 bán, nên H tìm xe lấy trộm. Số tiền có được từ việc chi m đoạt xe thì H và M1 cùng sử dụng. B cáo đồng ý bồi thường lại toàn bộ thiệt hại cho các b hại và bà D theo yêu cầu. Trong lời luận tội, v đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quy t đ nh truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân; các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ, đề ngh tuyên b cáo Nguy n P H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề ngh căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt b cáo từ 03 (ba) năm đ n 04 (bốn) năm tù. Đề ngh không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự, đề ngh buộc b cáo có trách nhiệm bồi thường giá tr T sản mà b cáo lấy trộm cho các b hại Nguy n Văn O, Nguy n Tấn T, Thái Văn L, Nguy n Th N, Phạm Văn G và người có quyền lợi, N1 vụ liên quan bà Huỳnh Th D. B cáo không có ý ki n tranh luận.

Lời nói sau cùng: B cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, hứa không tái phạm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về tố tụng: Những người b hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án; những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng này tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát, b cáo không có ý ki n. Xét việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, nên ti n hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này là phù hợp quy đ nh tại các điều 291, 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập. Tính hợp pháp của hành vi, quy t đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và phù hợp với quy đ nh của pháp luật.

Tại phiên tòa, b cáo không khi u nại về hành vi, quy t đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét hành vi, quy t đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp và phù hợp với quy đ nh của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy lời thú nhận tội của b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra; phù hợp lời khai của những người b hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Căn cứ vào các lời khai, các biên bản khám nghiệm hiện trường, các k t luận đ nh giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có cơ sở xác đ nh: Từ ngày 13/3/2019 đ n ngày 24/3/2014, b cáo Nguy n P Hậu đã có hành vi lén lút chi m đoạt 06 xe mô tô trên đ a bàn thành phố Châu Đốc và đ a bàn huyện An Phú, tổng giá tr 06 xe theo đ nh giá là 43.000.000 đồng. Giá tr tài sản từng lần chi m đoạt đều trên 2.000.000 đồng. Hành vi của b cáo là hành vi nguy hiểm, xâm phạm trực ti p quyền sở hữu tài sản của công dân và làm mất an ninh, trật tự tại đ a phương. B cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của b cáo đã đủ y u tố cấu thành tội “Trộm cắp t i sản”. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 5, mục 5.1 điểm a Ngh quy t số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp phạm tội của b cáo được coi là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, nên b áp dụng tình ti t đ nh khung tăng nặng theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xác đ nh truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đối với Nguy n P H là có căn cứ và đúng pháp luật. Về hành vi b cáo sử dụng giấy cầm đồ của ông G để đ n D ch vụ cầm đồ “Ngân Ngọc” lấy thêm 1.000.000 đồng là hành vi gian dối chi m đoạt tài sản. Do chưa đ n mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Công an huyện An Phú xử phạt hành chính đối với b cáo H là đúng quy đ nh. Về việc b cáo khai khoảng tháng 2 năm 2019 b cáo có lén lút chi m đoạt 01 xe hiệu YAMAHA (không nhớ số biển kiểm soát) tại thành phố Châu Đốc mang đi th trấn Long Bình bán cho một người lạ được 4.800.000 đồng. Do không xác đ nh được b hại, số loại xe cụ thể nên chưa đủ căn cứ xử lý, nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ, phù hợp quy đ nh tại các điều 13, 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. [4 Về tính chất vụ án: Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, những ai có hành vi xâm phạm đ n quyền sở hữu của người khác một cách trái pháp luật đều phải ch u trách nhiệm trước pháp luật. B cáo Hâ là thanh niên có sức khỏe, có đầy đủ năng lực hành vi nhưng không lo chí thú làm ăn. B cáo hoàn toàn hiểu được, việc chi m đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng b cáo vẫn cố ý thực thiện vì mục đích vụ lợi, tiêu xài cá nhân. Hành vi của b cáo là h t sức táo bạo, có tính chất chuyên nghiệp và rất nguy hiểm cho xã hội; động cơ phạm tội vì muốn có có tiền để tiêu xài cá nhân, mua ma túy sử dụng ; bản thân b cáo đã từng b đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không sửa đổi. Ngoài ra, trên đ a bàn huyện An Phú thời gian gần đây liên tục xảy ra mất trộm tài sản, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân nhân. Do đó, cấn áp dụng hình phạt nghiêm đối với b cáo nh m răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. [5 Về hình phạt: [5.1] Về nhân thân: B cáo là đối tượng nghiệm ma túy, ngày 24/8/2015 b cáo đã b áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang với thời hạn 24 tháng. [5.2] Về tình ti t tăng nặng: Trong thời gian ngắn b cáo đã 06 lần thực hiện hành vi lén lút chi m đoạt tài sản của công dân, giá tr tài sản các lần chi m đoạt đều trên 2.000.000 đồng. Do đó b cáo b áp dụng tình ti t tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy đ nh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [5.3] Về tình ti t giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, b cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự khai ra các lần thực hiện hành vi phạm tội. Đây là các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy đ nh tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; b cáo thuộc thành phần lao động nghèo, ít am hiểu pháp luật, cha mẹ ly hôn sớm, b cáo sống với bà ngoại, thi u sự quan tâm, giáo dục của gia đình, nên được áp dụng tình ti t giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho b cáo. Với tính chất và mức độ của hành vi; nhân thân b cáo; tình ti t tăng nặng và các tình ti t giảm nhẹ b cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy đề ngh về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận. Cần thi t áp dụng hình phạt tù, ti p tục cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian để cải tạo, giáo dục b cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội về sau.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình, thì người phạm tội có thể b phạt tiền từ năm triệu đồng đ n năm mươi triệu đồng. Xét thấy b cáo không nghề nghiệp ổn đ nh, hoàn cảnh khinh t khó khăn, nên chấp nhận đề ngh của Viện kiểm sát là không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo.

Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Ngày 18/4/2019, b hại Lê Hoàng P đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 67G1-311.32, nhãn hiệu Hoda loại Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen-bạc và không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét giải quy t.

Các xe của ông Phạm Văn O, biển kiểm soát 67N4-5519; xe của ông Nguy n Tấn T, biển kiểm soát 67K4-3430; xe của ông Thái Văn L, biển kiểm soát 67K5-2935; xe của bà Nguy n Th N, biển kiểm soát 1I-2344; xe của ông Phạm Văn G, biển kiểm soát 67C1-3121 không thu hồi được, do đó buộc b cáo có trách nhiệm bồi thường lại giá tr các xe cho các b hại theo đ nh giá. Riêng xe của ông G biển kiểm soát 67C1 – 3121 theo đ nh giá là 7.000.000 đồng, nhưng b cáo xác đ nh bán được 8.000.000 đồng và b cáo cũng đồng ý bồi thường 8.000.000 đồng, nên buộc b cáo bồi thường giá tr xe cho ông G là 8.000.000 đồng.

Ngoài ra, b cáo có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Huỳnh Th D (chủ D ch vụ cầm đồ “Kim Phụng”) tiền cầm xe biển số 67G1-311.32 là 12.000.000 đồng; trả lại cho anh Phạm Văn G số tiền mà anh G đã bỏ ra chuộc lại tài sản tại d ch vụ cầm đồ “Ngân Ngọc” là 1.000.000 đồng.

[8 Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án:

- Đối với Nguy n Thiện M1 (Minh Đảo) là người mà theo lời khai của b cáo đã kêu b cáo lấy trộm tài sản và đã nhận bán 04 xe do b cáo lấy trộm. Do M1 bỏ đi khỏi đ a phương nên chưa làm việc được. Ki n ngh Cơ quan điều tra ti p tục làm rõ hành vi của Minh để xử lý theo quy đ nh của pháp luật.

- Đối với bà Huỳnh Th D (Chủ D ch vụ cầm đồ “Kim Phụng”) nhận cầm tài sản không chính chủ mà không có ủy quyền của chủ sở hữu tài sản là vi phạm các điều 195, 309 Bộ luật dân sự; vi phạm điểm e khoản 2 Điều 11 Ngh đ nh 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ (Quy đ nh xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình). Ki n ngh Công an thành phố Châu Đốc cần làm rõ, xử lý theo quy đ nh.

Về chi phí tố tụng:

B cáo phải ch u án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Trong quá trình giải quy t vụ án không phát sinh các chi phí khác, nên b cáo và những người tham gia tố tụng khác không phải ch u. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ các điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khỏan 1, khoản 3 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí tòa án; 1/. Về tội danh: Tuyên bố b cáo Nguy n P H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; 2/. Về hình phạt: Xử phạt b cáo Nguy n P H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày b cáo b bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/3/2019 (ngày hai mươi bảy tháng ba năm hai nghìn không trăm mười chín). 3/. Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc b cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguy n Văn O 4.000.000 (bốn triệu) đồng;

- Bồi thường cho ông Nguy n Tấn T 3.000.000 (ba triệu) đồng;

- Bồi thường cho ông Thái Văn L 3.000.000 (ba triệu) đồng;

- Bồi thường cho bà Nguy n Th N 12.000.000 (mười hai triệu) đồng;

- Bồi thường cho ông Phạm Văn G 9.000.000 (chín triệu) đồng.

- Bồi thường cho bà Huỳnh Th D 12.000.000 (mười hai triệu) đồng. 4/. Về án phí: B cáo Nguy n P H phải ch u 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.150.000 (hai triệu một trăm năm mượi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng án phí mà b cáo phải ch u là 2.350.000 (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng. 5/. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai có mặt b cáo, b cáo Nguy n P Hậu có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/10/2019). Những b hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án vắng mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm y t. Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

Cỡ chữ