- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn L. Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (điều 175 Bộ luật hìn…"
- Tòa quyết gì? Tuyên b các bị cáo Phí Văn C, bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| n n s : 34/2019/HS-PT N : 14-5-2019 |
NHÂN DANH
TÒA ÁN NHÂN DÂN T
NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Ôn Phan Minh Dũn
Ông Huỳnh Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Hoàng Qu c Huy, Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đ o, Kiểm sát viên.
Ngày 14 th n 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 40/2019/TLPT-HS ngày 12-4-2019 đ i với bị cáo Đỗ Văn L cùn đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn L, Phí Văn C đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 06/2019/HS-ST ngày 07-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng.
* Các bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: ỗ ă
, sinh năm 1978 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Cắt tóc. Trình độ văn hóa: 3/12. Qu c tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Đỗ Qu c T, sinh năm 1947, con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1950. Vợ: Phạm Thị M, sinh năm 1982. Có 03 n ười con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2011; hiện đều cư trú tại: Thôn TT, xã ĐK, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Họ và tên: P í ă
, sinh năm 1984 tại tỉnh H i Dươn . Nơi ĐKNKTT v nơi cư trú: Thôn ĐT, xã PL, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ văn hóa: 0/12. Dân Tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Qu c tịch: Việt Nam. Con ông: Phí Văn Th, sinh năm 1953, con b Lươn Thị Ngọc B, sinh năm 1954. Vợ Mai Thị Huyền Tr, sinh năm 1987. Có 02 n ười con, con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010, hiện đều cư trú tại: Thôn ĐT, xã PL, huyện Đam Rôn , tỉnh Lâm Đồng.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại b n án s 56/2015/HSTP ngày 27-5-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 04 th n tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14-02-2019 đến nay, hiện đan tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đam Rôn . Có mặt.
Trong vụ án này, nguyên đơn dân sự, Ban quản lý rừng SêRêPốk, huyện Đam Rông; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Định, anh Tuấn, anh Liêng Jrang Ha Chong (Hoàn) không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
N I DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Vào kho ng tháng 10-2017, các bị cáo Đỗ Văn L, bị cáo Phí Văn C, cùng với anh Trần Văn Trọng anh Trần Văn Dươn , anh Liêng Jrang Ha Chong (Tên thường gọi là Hoàn) vào tiểu khu 65, thuộc địa giới h nh chính xã Đạ Long huyện Đam Rôn để tìm đ Thạch Anh. Trên đườn đi, nhóm của bị cáo L gặp một nhóm gồm các anh Lê Văn Tuấn (Tên thường gọi là Tuấn rừng), anh Liêng Hót Ha Soe, anh Nguyễn Thanh Vươn (Tên thường gọi là Út). Khi tất c đi đến kho nh 1 tiểu khu 65 xã Đạ Long nghỉ u n nước. Tại đâ , c nhóm thấy có 01 cây gỗ Du Sam lớn, đan còn s ng. Kho ng 15 phút sau, nhóm L, C, Dươn v Chong tiếp tục đi tìm đ , còn lại nhóm của anh Tuấn ở lại khu vực có cây Du Sam.
Đến kho ng cu i năm 2017, bị cáo L, bị cáo C vào lại kho nh 1 tiểu khu 65 thì biết cây gỗ Du Sam đã bị cưa hạ, nên bàn với nhau v o cưa xẻ gỗ của cây Du Sam này về sử dụn . Sau đó, bị cáo L và bị cáo C chuẩn bị 01 m cưa xăn cầm tay (Nhãn hiệu Stihl, màu trắng-đỏ), đồ dùng cá nhân rồi đi v o tiểu khu 65 dựng lán và xẻ gỗ. Khi v o đến nơi, thấy anh Tuấn đan cưa xẻ phần ngọn của cây Du Sam nói trên, phần g c vẫn còn nguyên. Bị cáo C sử dụn m cưa mang theo cắt phần g c cây Du sam (Sau đây gọi cây số 1) thành 02 bi, mỗi bi d i 3,5m, đường kính trung bình 1,23m, rồi xẻ thành 04 tấm sập có kích thước kho ng 3,5m x 1m x 0,2m; bị cáo L không biết cưa, xẻ nên phụ bị cáo C đo, bật mực và nấu cơm.
Tron qu trình cưa, xẻ cây Du Sam s 01, bị cáo L, bị cáo C phát hiện gần đó có 01 câ Du Sam vẫn còn s ng (Sau đây gọi cây số 2) nên n y sinh ý định cưa hạ cây Du Sam này. Sau khi th ng nhất, bị cáo C tiếp tục sử dụn cưa m cưa hạ cây Du Sam s 02 rồi cắt phần thân thành 03 bi, mỗi bi dài 3,5m. Sau đó xẻ thành 06 tấm sập, kích thước tươn tự như ở cây s 01. Ngoài việc cưa, tổng cộn được 10 tấm sập từ 02 cây Du Sam, bị cáo C còn xẻ các cục gỗ nhỏ, kích thước khác nhau từ phần bìa, sau đó thuê anh Ha Chong kéo ra khỏi hiện trườn . Đ i với các tấm sập to, khó vận chuyển bằng sức n ười, bị cáo L, bị cáo C đã liên hệ thuê anh Mạnh sử dụn 01 con trâu đực, để kéo xu ng khu ruộn , s t đường mòn tại tiểu khu 66 xã Đạ Long cất giấu, chờ thời cơ vận chuyển đi nơi kh c.
Ngày 23-01-2018, Ủy ban nhân dân xã Đạ Long bắt được 01 con trâu, 01 tấm sập gỗ Du Sam tại tại khu ruộn , s t đường mòn thuộc tiểu khu 66, bị cáo C nghe thông tin Ủy ban nhân dân xã Đạ Long bắt được con trâu và tấm sập nên giấu m cưa v o khe đ ần hiện trường và không quay lại vị trí 02 cây Du Sam nữa. Do bị cáo L bị cưa m bật vào mắt tron lúc cưa cắt cây gỗ, nên ph i đi điều trị, nên các bị c o chưa đưa được gỗ đã cưa tiêu thụ.
Theo kết qu khám nghiệm hiện trường ngày 28-02-2018, tại vị trí lô a kho nh 1 tiểu khu 65 thuộc địa giới h nh chính xã Đạ Long, huyện Đam Rôn do Ban qu n lý rừng phòng hộ Sêrêp k qu n lý x c định 02 cây gỗ bị cưa hạ trái phép, chủng loại Du Sam, nhóm IIA, lâm s n đã bị lấ đi khỏi hiện trường gần hết, chỉ còn 03 lóng (bi), ngọn v c nh. Đ i tượng rừng s n xuất, trạng thái rừng Lá rộng, công cụ t c độn l m cưa xăn cầm tay, thời điểm bị cưa hạ vào kho ng cu i năm 2017. Tổng kh i lượng lâm s n thiệt hại 35,190m3 gỗ tròn; tron đó cây s 01 có đường kính g c 1,35m, đường kính ngọn 0,9m, dài 22m, kh i lượng lâm s n thiệt hại 23,845m3 gỗ tròn; cây s 02 có đường kính g c 1,1m, đường kính ngọn 0,6m, dài 18m, kh i lượng lâm s n thiệt hại 11,345m3 gỗ tròn. Ngoài ra, biên b n ghi nhận hiện trường L ngày 30-11-2018, x c định tại vị trí cây Du Sam s 01 kh i lượng lâm s n của 02 bi phần g c mà các bị cáo C, bị cáo L đã cưa l 8,246m3 gỗ tròn. Tổng kh i lượng lâm s n của phần g c cây Du Sam s 01 và cây Du Sam s 02 mà các bị cáo C, bị cáo L đã khai th c
3
trái phép là 19,591m3 (8,246m3 + 11,345m ).
Theo B n kết luận định giá tài s n s 12/KL-HĐĐG ngày 28-3-2018 của Hội đồn định giá tài s n huyện Đam Rôn , kết luận Tổng giá trị thiệt hại của 35,190m3 gỗ Du Sam 334.006.000đ, tron đó giá trị thiệt hại về lâm s n là 83.501.500đ, i trị thiệt hại về môi trường là 250.504.500đ. Theo Văn b n s 11/HĐĐG ngày 20-12-2018 của Hội đồn định giá tài s n huyện Đam Rôn , thiệt hại về lâm s n của 19,591m3 gỗ là 47.943.000đ, thiệt hại về môi trường là 143.829.000đ, tổng giá trị thiệt hại là 191.772.000đ.
Đ i với anh Tuấn (Tuấn Rừng) chỉ cưa phần giữa và phần ngọn của cây là 6,54m3 gỗ Du Sam cây s 01, giữa anh Tuấn và nhóm bị cáo L, bị cáo C không có sự bàn bạc th ng nhất với nhau. Căn cứ thôn tư s 19/2007/TTLT ngày 08-3-2007 hướng dẫn áp dụng một s điều của Bộ luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực qu n lý b o vệ rừng thì kh i lượng lâm s n anh anh Tuấn khai thác chưa đủ căn cứ để xử lý về hình sự. Do vậy, cơ quan Điều tra L hồ sơ đề nghị xử lý h nh chính đ i với anh Tuấn theo qu định của pháp luật. Còn việc anh Tuấn có ph i l n ười trực tiếp cưa hạ cây Du Sam s 01 hay không, Cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra, nếu có đủ căn cứ sẽ được xử lý bằng một vụ án hình sự khác.
Đ i với anh Mạnh dùn con Trâu đực kéo gỗ về tập kết tại tiểu khu 66 xã Đạ Long do bị cáo L, bị cáo C thuê; sau khi bị phát hiện và thu giữ con Trâu cùng với tấm sập, anh Mạnh đã bỏ tr n khỏi địa phươn , nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra l m rõ để xử lý sau.
Đ i với anh Ha Chong (Hoàn) l n ười làm thuê cho các bị cáo L, bị cáo C v được tr công theo ngày, giữa Chong và các bị cáo L, bị cáo C không có sự bàn bạc, nên Cơ quan điều tra không xử lý với vai trò đồng phạm trong vụ án. Đ i với anh Phúc l n ười mua gỗ do anh Tuấn b n, nhưn anh Phúc không biết rõ lai lịch, nguồn g c gỗ, nên Cơ quan điều tra không xử lý. Tuy nhiên, hành vi của anh Ha Chong, anh Phúc vi phạm hành chính, Cơ quan Điều tra đã kiến nghị Hạt kiểm lâm xử lý hành chính theo qu định.
Tại b n án s 06/2019/HS-ST ngày 07-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rôn đã tuyên b các bị cáo Phí Văn C, bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Áp dụn điểm a kho n 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (Sau đây gọi chung Bộ luật hình sự 1999); điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sun năm 2017 (Sau đây gọi chung Bộ luật hình sự 2015). Bị cáo L được áp dụn thêm điểm i của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Phí Văn C 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-02-2019.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Áp dụng kho n 3 Điều 175 Bộ luật hình sự 1999. Phạt tiền đ i với các bị cáo Phí Văn C 5.000.000đ; bị cáo Đỗ Văn L 5.000.000đ.
Áp dụn Điều 48 Bộ luật hình sự; buộc các bị cáo Phí Văn C, Đỗ Văn L mỗi n ười ph i bồi thường s tiền 23.971.500đ để sung vào công quỹ Nh nước.
Ngoài ra, b n án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi h nh n theo qu định pháp luật.
Ngày 11-3-2019 bị c o C kh n c o xin i m nhẹ hình phạt.
Ngày 18-3-2019 bị c o L kh n c o xin i m nhẹ hình phạt, xin được hưởn n treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm; các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận; các bị cáo khai nhận thực hiện h nh vi như b n n sơ thẩm, không thắc mắc khiếu nại b n n sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồn đề nghị căn cứ điển a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bột luật t tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n n sơ thẩm.
NHẬ ỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Do đã biết trước vị trí cây gỗ Du sam thuộc nhóm IIA, nên vào kho ng cu i năm 2017, c c bị cáo Đỗ Văn L, bị cáo Phí Văn C vào kho nh 1 tiểu khu 65 xã Đạ Long thực hiện hành vi dùng m cưa xăn cầm tay (Nhãn hiệu Stihl, màu trắng-đỏ) cưa câ ỗ này, tron đó câ s 1 đã bị cưa hạ, các bị c o cưa cắt phần g c cây Du sam thành 02 bi, mỗi bi d i 3,5m, đường kính trung bình 1,23m, rồi xẻ thành 04 tấm sập có kích thước kho ng 3,5m x 1m x 0,2m. Đ i với cây s 2 các bị cáo cắt hạ sau đó cắt thành 03 bi, mỗi bi dài 3,5m, xẻ được 06 tấm sập, kích thước tươn tự như ở cây s 01; bị cáo C còn cắt các cục gỗ nhỏ, kích thước khác nhau từ phần bìa, sau đó thuê anh Ha Chong kéo ra khỏi hiện trường; thuê anh Mạnh sử dụng trâu kéo xu ng khu ruộng, s t đường mòn tại tiểu khu 66 xã Đạ Long cất giấu, vận chuyển tiêu thụ.
Căn cứ kết qu khám nghiệm, kết qu định giá trong t tụn đã x c định các bị cáo C, bị cáo L đã cưa câ s 1 là 8,246m3 gỗ; cây s 2 là 11,345m3. Tổng kh i lượng lâm s n các bị cáo đã khai th c tr i phép l 19,591m3; giá thiệt hại về lâm s n là 47.943.000đ. Cấp sơ thẩm đ nh i to n diện chứng cứ, đ i chiếu lời khai của của các bị cáo, kết qu khám nghiệm, kết qu định giá trong t tụng; vật chứng thu giữ, lời khai của n ười liên quan đã tu ên b các bị cáo Đỗ Văn L, bị cáo Phí Văn C phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo điểm a kho n 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 1999 l có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của các bị c o, đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây nh hưởn đến trật tự đến qu n lý, b o vệ rừng tại địa phươn ; Tòa án cấp sơ thẩm đã p dụng các tình tiết gi m nhẹ cho bị cáo C điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 để quyết định xử phạt bị cáo C 12 tháng tù là thỏa đ n . Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phí Văn C, giữ nguyên b n n sơ thẩm.
Đ i với bị cáo L tham gia với vai trò đồng phạm, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nên đã được được áp dụng tình tiết gi m nhẹ theo điểm i kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; áp dụng Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 về nguyên tắc đồng phạm v phân hóa vai trò đồng phạm để quyết định xử phạt để quyết định xử phạt bị cáo L 06 tháng tù là thỏa đ n .
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị c o L xuất trình t i liệu đã bồi thườn s tiền theo b n n sơ thẩm tuyên (Theo biên lai thu số AA/2010/08521 ngày 10/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đam Rông), nên p dụn tình tiết i m nhẹ theo điểm b kho n 1 Điều 51 của ộ luật hình sự. ên cạnh đó, bị c o có nơi cư trú rõ ràng; bị c o được hưởng 3 tình tiết gi m nhẹ qu định tại kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; khôn bị áp dụng tình tiết tăn nặn theo qu định Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do vậy cần chấp nhận khoáng cáo của bị cáo, áp dụn Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, iữ nguyên mức hình phạt và cho bị c o được c i tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phươn cũn đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, không gây nguy hiểm cho xã hội, không nh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo C kh n c o khôn được chấp nhận, nên bị cáo C ph i chịu án phúc hình sự phúc thẩm. Đ i với bị cáo L kh n c o được chấp nhận nên không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ỊNH:
Căn cứ các điểm a, b kho n 1 Điều 355, Điều 356; Điều 357 của Bộ luật t tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phí Văn C; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn L, sửa b n n sơ thẩm, xử:
1. Tuyên b các bị cáo Phí Văn C, bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Áp dụn điểm a kho n 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự 1999; điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo L được áp dụng thêm Điều 17, Điều 38; các điểm b, i kho n 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Phí Văn C 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-02-2019.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 06 th n tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tình từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Văn L cho Ủy ban nhân dân xã ĐK, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về n phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phí Văn C ph i chịu 200.000đ n phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Đỗ Văn L không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng; - TAND, VKSND cấp sơ thẩm; - CSĐT Công an huyện Đam Rôn ; - Chi cục THADS Đam Rôn ; - Nhà tạm giữ Đam Rôn ; - Bị cáo (Để thi hành); - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. H I NG XÉT XỬ PHÚC THẨM Ẩ P - Ọ P Ê ( ã ký) Nguyễ Kim ồng |