- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRAN VAN T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH GIA LAI
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
____________
_________________________________ Bản án số: 34/2019/HS-PT
Ngày 23-7-2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Bá Dự
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Bà Đinh Thị Như Phượng
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 46/2019/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn T (Tám), sinh năm 1965, tại Bình Định. Nơi cư trú: tổ 10, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết), bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: năm 1989 bị Tòa án Quân sự Quân khu 5 xử phạt 14 năm tù giam về tội “Giết người và trốn khỏi nơi giam giữ” chấp hành án đến tháng 9/1997 được tha tù trước thời hạn trở về địa phương sinh sống; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/12/2018. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 24/8/2018 Trần Văn T cùng anh Bùi Văn H uống rượu và chơi đánh bài tại phòng khách nhà T với hình thức người thắng thì được uống rượu. Đến 08 giờ cùng ngày, H cho rằng T chơi ăn gian nên uống được nhiều hơn nên giữa T và anh H xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Lúc này, T đi vào trong nhà lấy 01 khúc gỗ dài 51,5 cm đường kính 5,7cm cầm ra, dùng khúc gỗ này đánh 01 nhát trúng vào đầu và đánh 02 nhát trúng vào tay trái anh H, sau đó T kéo anh H ra ngoài đường Huỳnh Thúc Kháng rồi T bỏ đi. Thấy anh H chảy nhiều máu nên người dân đưa đến bệnh viện đa khoa thành phố P cấp cứu, sau đó anh H được chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai điều trị, đến ngày 04/9/2018 thì xuất viện. Đến 13 giờ cùng ngày, Trần Văn T đến Công an phường Y, thành phố P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 08/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 25/12/2018
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, bồi thường dân sự, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo
Ngày 16/5/2018 bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, bị cáo chỉ đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định Tòa án nhân dân thành phố P xét xử bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng: do mâu thuẫn bột phát trong lúc uống rượu mà bị cáo T dùng khúc gỗ đánh anh H tổn hại 25% sức khỏe nên bị xét xử tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 06 năm. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cũng như các quy định của pháp luật hình sự để tuyên cho bị cáo mức án phù hợp đã đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trừng phạt đúng người đúng tội. Sau phiên tòa sơ thẩm bị cáo không nộp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có căn cứ xem xét. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;
́
QUYÊT ĐI ̣NH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 25/12/2018
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND thành phố P; - Chi cục THADS thành phố P; - Công an thành phố P; - Bị cáo; Bị hại, NTGTT - Lưu VT, THS, HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đa kỹ ́) Giáp Bá Dự |