vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt anh Mai Phú Q.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Mai Phú Q. Về quan hệ con chung: Không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Mai Phú Q"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt anh Mai Phú Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 10 - 2019
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Trọng Sơn

2. Bà Trần Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2019/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H- Sinh năm: 1995

Nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Mai Phú Q- Sinh năm: 1993

Nơi cư trú: thôn T, xã M, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 6 năm 2019 và bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Mai Phú Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 14 tháng 4 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng kéo dài nên chị và anh Qsống ly thân từ tháng 5 năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của mình đối với anh Q thực sự không còn nữa nên nguyện vọng của chị H là mong muốn được ly hôn với anh Q để sớm ổn định cuộc sống.

Quá trình chung sống chị và anh Q chưa có con chung, chưa tôn tạo được tài sản chung gì và cũng không có nợ nần gì chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập nhiều lần cho anh Q nhưng anh Q không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã M và theo lời khai của ông Mai Văn L (bố đẻ của anh Q) cho thấy: Gia đình anh Q đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng nói trên của Tòa án và đã thông báo cho anh Q biết về nội dung, thời gian đến trụ sở Tòa án cũng như trụ sở Ủy ban nhân dân xã M để tham gia tố tụng. Tuy nhiên, anh Q đều không có mặt theo các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Ông Mai Văn L cho biết, sau các lần Tòa án gửi các văn bản tố tụng, ông đã trực tiếp nhận và điện thoại báo cho anh Q. Tuy nhiên do điều kiện công việc nên anh Q không thể chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án. Qua trao đổi qua điện thoại với anh Q, ông Lợi cho biết anh Q có nguyện vọng mong muốn đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết vụ án vắng mặt anh. Về các nội dung liên quan đến vụ án, anh Q và đại diện gia đình (Ông L) thống nhất với trình bày của chị H về quan hệ tình cảm, con chung và tài sản chung.

Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 09/10/2019, trước đó đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Q. Tuy nhiên, do anh Q vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập anh Q đến phiên tòa lần thứ hai vào ngày 25/10/2019, đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đến phiên toà, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Q, nhưng tại phiên tòa anh Q vẫn tiếp tục vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Xét xử vắng mặt anh Mai Phú Q; xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn với anh Mai Phú Q. Do chị H và anh Q không có tài sản chung và không có nợ chung nên không xem xét về các vấn đề này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Mai Phú Q; anh Q có nơi cư trú tại xã M, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Về sự vắng mặt của anh Mai Phú Q tại phiên toà, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà hai lần nhưng anh Q vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị H và anh Mai Phú Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống chung hạnh phúc không được bao lâu đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hiện tại các bên đã sống ly thân và cũng không quan tâm gì đến nhau nên tình cảm không còn. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị H kiên quyết xin được ly hôn với anh Q.

Đối với anh Mai Phú Q, mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng đầy đủ, anh biết rõ việc chị H làm đơn xin ly hôn với mình và vụ án đang được Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền nhưng vẫn cố tình vắng mặt, không chấp hành theo sự triệu tập của Tòa án. Theo trình bày của chị H và kết quả xác minh cho thấy, trong khoảng thời gian dài ly thân, anh Q đã không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn đối với anh Mai Phú Q là phù hợp.

[3] Về quan hệ con chung và tài sản chung:

Theo trình bày của chị Nguyễn Thị H và kết quả xác minh cho thấy vợ chồng anh chị không có con chung, không có tài sản chung gì, không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí:

Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vụ án vắng mặt anh Mai Phú Q.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Mai Phú Q.

3. Về quan hệ con chung: Không xem xét.

4. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.

5. Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002416 ngày 13 tháng 6 năm 2019. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/10/2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ