- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 34/2019/HNGĐ-ST Ngày: 22/05/2019 |
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Chiên Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Minh. 2. Ông Trần Xuân Giới. Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh: Bà Vũ Ngọc Quyên - chức vụ: Kiểm sát viên. Trong ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 145/2019/TLST- HNGĐ ngày 25/01/2019, về việc “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXX - ST ngày 25/4/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/QĐS-ST ngày 10/5/2019. Giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hà Minh H - Sinh: 1991 Nơi cư trú: Tổ 9, khu 6, P.Giếng Đáy, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt tại phiên toà. Bị đơn: Anh Phạm Duy Cường - Sinh: 1991 Nơi cư trú: Tổ 1, khu 1, P.Hà Trung, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 18/01/2019, bản tự khai ngày 26/02/2019 và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Hà Minh H trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn là anh Phạm Duy C chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 16/3/2017, đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký kết hôn tự nguyện. Trước khi đăng ký kết hôn anh C và Tôi (H) chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C ham chơi cờ bạc, lô đề dẫn đến nợ nhiều, vợ chồng xô xát cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên nội ngoại hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay Tôi (H) thấy tình cảm không còn, xin được ly hôn anh C. - Về con: Vợ chồng sinh được 01 con chung là Phạm Duy P - sinh: 26/8/2017. Nếu ly hôn, Tôi (H) xin được nuôi con chung. Hàng tháng yêu cầu anh Phạm Duy C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền là 3.000.000 đồng.
- Về tài sản và nợ: Tôi (H) xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, cuộc sống chung vợ chồng không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Bị đơn là anh Phạm Duy C đã được Tòa án triệu tập ngày 26/02/2019 và ngày 06/3/2019, nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, quan điểm trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Hôn nhân giữa chị Nguyễn Hà Minh H và anh Phạm Duy C trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được pháp luật bảo vệ. Chị H xác nhận cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh C ham chơi cờ bạc, lô đề dẫn đến nợ nhiều, vợ chồng không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên nội ngoại hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 9 năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau. Ngày 11/4/2019, Toà án nhân dân thành phố H có điều tra xác minh ở địa pH nơi anh Cường sống, đại diện tổ dân cung cấp thông tin là chị Nguyễn Hà Minh H và anh Phạm Duy C là vợ chồng. Sau khi kết hôn anh chị đi nơi khác sống và làm việc, anh C vẫn đăng ký hộ khẩu tại địa pH, đến cuối năm 2017 thì anh C không sống cùng vợ con nữa, anh C một mình về sống cùng Bố Mẹ đẻ tại tổ dân tổ 1, khu 1, phường H. Tổ dân được biết giữa anh C và chị H có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C mải chơi, lô đề cờ bạc dẫn đến nợ, vợ chồng cãi vã mâu thuẫn. Chị H có đơn xin ly hôn anh C, Tòa án đã nhiều lần ủy thác để tổ dân giao giấy triệu tập cho anh C đến tòa án để giải quyết nhưng anh C không chấp hành. Tổ dân cung cấp thông tin để Tòa án biết. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C không có mặt tại Toà án để có quan điểm về việc chị Nguyễn Hà Minh H xin ly hôn anh. Việc này chứng minh anh C không quan tâm đến cuộc sống chung và hạnh phúc vợ chồng. Từ những phân tích trên, thấy tình cảm vợ chồng chị Nguyễn Hà Minh H và anh Phạm Duy C đã mâu thuẫn và sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Hà Minh H là cần thiết. [2] Về con: Chị Nguyễn Hà Minh H và anh Phạm Duy C sinh được 01 con chung là Phạm Duy P - sinh: 26/8/2017. Quá trình giải quyết vụ án, anh C không đến Tòa án để có quan điểm về con. Chị Nguyễn Hà Minh H có nguyện vọng xin được nuôi con chung và yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 3.000.000 đồng/tháng. Xét yêu cầu cấp dưỡng là cao vì anh C không có việc làm ổn định, chị H nuôi con thì cả Bố và Mẹ đều phải có nghĩa vụ lo cho con. Nên buộc anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp. [3] Về tài sản và nợ: Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có khoản nợ chung nào của Nhà nước cũng như tư nhân. Nên không đề cập.
Về án phí: Chị Nguyễn Hà Minh H chịu án phí ly hôn, anh Phạm Duy C chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; khoản 4, Điều 147; khoản 3, Điều 228; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, điểm c, khoản 6, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Hà Minh H. Chị Nguyễn Hà Minh H được ly hôn anh Phạm Duy C. 2. Về con: Giao con chung Phạm Duy P - sinh: 26/8/2017 cho chị Nguyễn Hà Minh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. 3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Duy C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền là 2.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 5 năm 2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi. - Anh Phạm Duy C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 4. Về tài sản và nợ: Không đề cập. 5. Về án phí: Chị Nguyễn Hà Minh H chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (chị H đã nộp tạm ứng án phí ly hôn tại biên lai số: 0000400 ngày 25/01/2019, tại chi cục thi hành án dân sự thành phố H, nay chuyển thành án phí ly hôn chính thức). Anh Phạm Duy C chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Án xử công khai, có mặt chị H, vắng anh C. Báo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, chị H kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh C kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận: - VKSND TP.H - Tòa án nhân dân Tỉnh Q.N; - THA TP.H; - Các đương sự; - UBND phường G; - Lưu hồ sơ + VP; | T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Chiên |