- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Mai Văn Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 9 - 2019 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội Đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Dung, bà Trịnh Thị Hồng Thắm.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
Ngày 30/9/2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 155/2019/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/9/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Xóm Yên Bình, xã YP, huyện Y, tỉnh Nam Định;
Bị đơn: Anh Mai Văn Đ, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Xóm Yên Bình, xã YP, huyện Y, tỉnh Nam Định;
Tại phiên tòa: Vắng mặt chị T, anh Đ (chị T, anh Đ xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày: Chị kết hôn với anh Mai Văn Đ vào ngày 08/4/1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã YP, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ thường xuyên mắng chửi chị vô cớ. Từ năm 2015 đến năm 2018 chị đã bị phẫu thuật 3 lần, đã cắt hết tử cung và buồng trứng thì anh Đ nói thẳng là không còn tình cảm gì với chị. Anh chị chính thức sống ly thân từ ngày 10/02/2019 cho đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Văn Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có hai con chung là Mai Hải D, sinh ngày 23/4/1993 và Mai Vũ Thế H, sinh ngày 27/12/1997. Hiện nay cả hai con chung đều đã khôn lớn, trưởng thành nên chị không đề nghị Toà án giải quyết về vấn đề con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bản tự khai đề ngày 01/8/2019, bị đơn anh Mai Văn Đ trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn phù hợp với lời khai của chị T. Anh xác định sau kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận cho đến năm 2014, sau khi anh dẫn con đi thi đại học ở Hà Nội về thì chị T đã có sự chuẩn bị đi vào Nam chơi mà không nói gì với anh. Tháng 11/2018 anh thoả thuận với chị để anh vào Nam bế cháu cho con gái đi làm, hai tháng sau khi về chị T luôn nghi ngờ anh có đi gái nên bắt anh đi xét nghiệm HIV và giang mai, anh vì giữ hạnh phúc gia đình nên cũng Đ ý đi kiểm tra cho chị vui vẻ. Chị T còn khẳng định anh dẫn gái về nhà ngủ mặc dù nhà có lắp camera. Từ năm 2015 đến nay chị T lo cho nhà ngoại như trưởng nam, không lo gì việc chồng con. Từ ngày 6/01/2019 âm lịch chị T đã lên nhà ngoại ở và sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị T yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh thấy không có cơ sở chính đáng, rõ ràng, anh không đầy ải, không đánh đập, anh không Đ ý ly hôn và các con anh cũng thế, nếu chị T cương quyết xin ly hôn thì ly hôn một vế chứ anh không ký kết giấy tờ và không lên Toà nữa.
Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là Mai Hải D, sinh ngày 23/4/1993 và Mai Vũ Thế H, sinh ngày 27/12/1997. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lập nên anh không đề nghị Toà án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh chị nhưng anh Đ không có mặt, chị T có đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Đ và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa:
Chị T, anh Đ đều có đề nghị xin giải quyết vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của chị T, anh Đ đề nghị Hội Đ xét xử vắng mặt. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội Đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” do nguyên đơn chị Vũ Thị T thực hiện quyền khởi kiện. Bị đơn anh Mai Văn Đ có nơi cư trú tại thôn Yên Bình, xã YP, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án chị T, anh Đ đều có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội Đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Mai Văn Đ tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 08/4/1990 tại Ủy ban nhân dân xã YP, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến khoảng năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng anh chị không có sự tin tưởng nhau, chị T cho rằng anh Đ từ khi chị phẫu thuật cắt hết tử cung và buồng trứng thì anh Đ không còn tình cảm gì với chị. Về phía anh Đ lại cho rằng chị T luôn nghi ngờ anh có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, còn dẫn gái về nhà, nghi ngờ anh nhiễm bệnh xã hội, dẫn đến cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, áp lực. Hai bên đã xảy ra mâu thuẫn, bất Đ quan điểm và hiện nay đang sống ly thân. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin ly hôn với anh Đ. Về phía anh Đ, anh cũng xác định cuộc sống vợ chồng có những mâu thuẫn, bất Đ tuy nhiên anh không đầy ải, không đánh đập chị và cho rằng chị T ly hôn anh là không có cơ sở chính đang nên không Đ ý ly hôn với chị T. Xét thấy trên thực tế chị T, anh Đ đã sống ly thân nhau, hôn nhân giữa anh chị đã chấm dứt từ tháng 02/2019 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T kiên quyết xin ly hôn, anh Đ không Đ ý ly hôn nhưng không có có biện pháp gì để để hàn gắn tình cảm. Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh chị nhưng anh Đ không có mặt, chị T có đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án nên Tòa án không thể gắn kết hạnh phúc cho anh chị được. Xét thấy anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của chị T, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị T, anh Đ xác định anh, chị có hai con chung là Mai Hải D, sinh ngày 23/4/1993 và Mai Vũ Thế H, sinh ngày 27/12/1997. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lập nên anh, chị không đề nghị Toà án giải quyết về con chung, vì vậy Hội Đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị T, anh Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội Đ xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Mai Văn Đ.
2. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Vũ Thị T phải nộp là 300.000 Đ, đối trừ với số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0001190, ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, chị T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Vũ Thị T và anh Mai Văn Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh: 01 bản; - VKSND Tỉnh+Huyện: 02 bản; - Chi cục Thi hành án dân sự: 01 bản; - Các đương sự: 01 bản; - UBND xã YP: 01 bản; - Hồ sơ vụ án: 01 bản; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Anh |