vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lữ Thị Kim Q

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lữ Thị Kim Q được ly hôn với anh Phạm Văn L. 2/ Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Kim A, sinh ngày 14/12/2014 cho chị Lữ Thị Kim Q tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Phạm Văn S, sinh ngày 09/10/2013 cho anh Phạm Văn L chăm sóc nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn giữa Lữ THị Kim Q và Phạm Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lữ Thị Kim Q
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 01/4/2019
V/v: Ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trước

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Sen

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Long Hồ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ không tham gia phiên tòa .

Trong ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 17/2019/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019, về việc: “Ly hôn và nuôi con ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Lữ Thị Kim Q, sinh năm 1994 ( Có đơn vắng mặt)

Địa chỉ: Số Z, khóm B, phường Y, thành phố L, tỉnh Bac Liêu

2.Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện H, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 09 tháng 01 năm 2019 của nguyên đơn chị Lữ Thị Kim Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2012 qua quen biết chị và anh L tiến tới hôn nhân và cả hai tiến hành lễ cưới, đến ngày 27/02/2017 chị và anh L, có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2016 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bản thân chị đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không được, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2017 cho đến nay. Nay chị Lữ Thị Kim Q nhận thấy không còn tình cảm với anh Phạm Văn L nên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Văn Sá, sinh ngày 09/10/2013 và cháu tên Phạm Thị Kim A, sinh ngày 14/12/2014. Cháu Phạm Văn S đang sống với anh L, nên chị đồng ý giao cháu S cho anh L chăm sóc nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Phạm Thị Kim A hiện nay do chị đang chăm sóc nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Kim A, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị Q khai không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc làm ăn xa nên không về tham dự mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử được, nên chị yêu cầu được giải quyết vắng mặt chị.

Bị đơn chị anh Phạm Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị Q tiến đến hôn nhân trên cơ sở mai mối, hai bên có tổ chức lễ cưới vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 27/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi kết hôn thì chị Q về chung sống bên gia đình anh L tại xã H. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cự cãi chị Q đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở tỉnh Bạc Liêu sinh sống, anh L và chị Q đã không còn sống chung từ năm 2015 đến nay. Nay anh Phạm Văn L đồng ý ly hôn với chị Lữ Thị Kim Q.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Văn S, sinh ngày 09/10/2013 và Phạm Thị Kim A, sinh ngày 14/12/2014; hiện tại cháu Phạm Văn S đang sống chung với anh L, còn cháu Kim A đang sống chung với chị Q. Khi ly hôn anh L đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Văn S và anh không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi cháu S; anh L đồng ý giao cháu Phạm Thị Kim A cho chị L nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi cháu Kim A.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị Lữ Thị Kim Q đã có đơn xin vắng mặt, nên không có mặt tại phiên tòa.

Anh Phạm Văn L khai vợ chồng chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến, thường cự cải nhau, không thế hàn gắn. hiện nay vợ chồng đã ly thân không còn chung sống, vì vậy anh đồng ý ly hôn với chị Lữ Thị Kim Q.

Về con chung: Anh đồng ý giao cháu Phạm Thị Kim A, sinh ngày 14/12/2014 cho chị Lữ Thị Kim Q chăm sóc nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Văn S, sinh ngày 09/10/2013 anh không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung : không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lữ Thị Kim Q có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt chị Lữ Thị Kim Q.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị Kim Q và anh Phạm Văn L kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/02/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Xét về mâu thuẫn tại phiên tòa hôm nay, anh L trình bày vợ chồng chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến nhau, chị Q bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Bạc Liêu sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay, nên anh đồng ý ly hôn với chị Q. Tại phiên tòa hôm nay chị Q có đơn vắng mặt. Xét vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, cả hai không còn sống chung, cả hai đều đồng ý ly hôn. Do chị Q không tham dự phiên tòa, nên Hội đồng xét xử không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự. Vì vậy Hội đồng xét xử cho chị Lữ Thị Kim Q được ly hôn với anh Phạm Văn L được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2.] Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung, cháu tên Phạm Thị Kim A, sinh ngày 14/12/2014 và cháu Phạm Văn S, sinh ngày 09/10/2013, anh L đồng ý giao cháu Phạm Thị Kim A cho chị Lữ Thị Kim Q chăm sóc nuôi dưỡng, anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Văn S,

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho ai, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Cả hai không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, khoản 1, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 9, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lữ Thị Kim Q

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lữ Thị Kim Q được ly hôn với anh Phạm Văn L.

2/ Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Kim A, sinh ngày 14/12/2014 cho chị Lữ Thị Kim Q tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Phạm Văn S, sinh ngày 09/10/2013 cho anh Phạm Văn L chăm sóc nuôi dưỡng.

3/ Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

4/ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5/ Về án phí: Buộc chị Lữ Thị Kim Q phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002057 ngày 09/01/2019 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, chị Q đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6/ Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ