vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K, cho bà Nguyễn Thị K đượ c ly hôn vớ i ông Bùi Văn P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 08/02/1993 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang cấ p).

Về con chung: Giao cháu Bùi Thanh H, sinh ngày 19/5/2003 cho bà Nguyễ n Thị K đượ c trực tiếp nuôi dưỡ ng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Bùi Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà K không yêu cầ u . Ông Bùi Văn P có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị K - Bùi Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K, cho bà Nguyễn Thị K đượ c ly hôn vớ i ông Bùi Văn P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 08/02/1993 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang cấ p).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26 -11 - 2019
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi
con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Xuân Nghiêm

2. Ông Nguyễn Quốc Trường

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 181/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễ n Thị K, sinh năm 1970, có mặt.

Đị a chỉ : Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắ c Giang.

Bị đơn: Ông Bùi Văn P, sinh năm 1968, có mặt.

Địa chỉ: Số * ngõ * đườ ng B, khu T, thị trấn H, huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/9/2019, bản tự khai, các biên bản trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân : Bà và ông Bùi Văn P đăng ký kết hôn ngày 08/02/1993 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hai vợ chồng công tác trong quân đội nên thời gian ở gần nhau không nhiều. Từ tháng 02/2004 ông Bùi Văn P chuyển về công tác tại Hà Nội, năm 2007 ông Bùi Văn P bắt đầu có dấu hiệu nợ nần cầm cố tài sản của bản thân và xe mô tô của vợ , năm 2008 bắt đầu xuất hiện nhiều người mang giấy nợ đến nhà đòi nợ ông Bùi Văn P, bà đã phả i vay tiền để trả nợ cho ông P, còn ông P không có trách nhiệm trả nợ, không góp tiền nuôi con và xây dựng gia đình, những lần đề cập đến việc trả nợ và nuôi con là ông Bùi Văn P không hợp tác, bà đã tự nuôi hai con và lo trả nợ thay cho ông Bùi Văn P, từ đó dẫn đến các con và bà bị khủng hoảng về cả tinh thần và vật chất, nhiều lúc bà và các con phải đưa nhau đi trốn nợ. Ngoài ra ông P còn có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác , vợ chồ ng số ng ly thân từ năm 2016 đến nay không còn quan tâm đến nhau , nên bà yêu cầ u đượ c ly hôn vớ i ông Bùi Văn P.

Về con chung: Bà và ông P có 02 ngườ i con chung là Bùi Thanh S, sinh năm 1993 và Bùi Thanh H , sinh ngày 19/5/2003. Cháu Bùi Thanh S hiệ n đã trưở ng thà nh nên bà không yêu cầ u giả i quyế t , còn cháu Bùi Thanh H , bà yêu cầu được nuôi và không yêu cầu ông Bùi Văn P cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Bùi Văn P đã đượ c Tò a á n thông bá o và triệ u tậ p tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt không có lý do . Tại phiên tòa, ông P có mặt và khai: Về thờ i gian kế t hôn , điề u kiệ n kế t hôn như bà K trình bày là đúng nhưng nguyên nhân mâu thuẫ n như bà K khai có phầ n đú ng, phầ n không. Nguyên nhân mâu thuẫ n giữ a ông và bà K là mâu thuẫn về kinh tế, khiế n bà K phải vay mượn tiề n về trả nợ cho ông là đú ng, còn việc bà K khai ông có quan hệ vớ i ngườ i phụ nữ khá c là không đú ng và thời gian sống chung bà K chưa là m đú ng trá ch nhiệ m của người con dâu với mẹ chồng , hơn nữ a vợ chồ ng số ng ly thân từ năm 2012 chứ không phả i năm 2016 như bà K đã khai, từ đó đế n nay vợ chồ ng ông không còn quan tâm đến nhau nhưng nay bà K yêu cầ u ly hôn ông không đồ ng ý vì các lý do: mẹ đẻ ông vừa mất chưa được 49 ngày, khoản nợ của ông hiện chưa trả nợ xong và cá c con chưa trưở ng thà nh , ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác.

Về con chung: Có 02 con chung là Bùi Thanh S , sinh năm 1993 và Bùi Thanh H, sinh ngày 19/5/2003. Ông đồ ng ý để bà K nuôi con chung là Bùi Thanh H, ông sẽ tự có trá ch nhiệ m cấ p dưỡ ng nuôi con theo khả năng củ a mì nh , còn cháu Bùi Thanh S đã trưở ng thà nh nên do chá u tự quyế t đị nh.

Về tài sản chung và nợ chung củ a vợ chồ ng là không có , khoản nợ riêng ông sẽ tự có trá ch nhiệ m trả , không liên quan đế n hai vợ chồ ng.

Quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn ông Bùi Văn P vắ ng mặ t nên Tò a á n không tiế n hà nh hoà giải được. Do không tiế n hà nh hoà giải đượ c nên Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễ n Thị K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị đượ c ly hôn và yêu cầ u đượ c nuôi con chung ; bị đơn ông Bùi Văn P không đồ ng ý ly hôn, đồ ng ý để bà K nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việ c tuân theo phá p luậ t và đề xuấ t hướ ng giả i quyế t vụ á n: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thờ i gian chuẩ n bị xé t xử và Hội đồng xét xử đề u đã thự c hiệ n đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t; thư ký tạ i phiên tò a đã thự c hiệ n đú ng quyề n và nghĩ a vụ củ a mì nh . Việ c tuân theo phá p luậ t củ a đương sư: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyề n và nghĩ a vụ tố tụng ; bị đơn thực hiện không đúng quyề n và nghĩ a vụ đượ c quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điể m giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị K đượ c ly hôn vớ i ông ông Bùi Văn P ; về con chung: Giao con chung là Bùi Thanh H cho bà Nguyễ n Thị K được trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Bùi Thanh H đủ 18 tuổi, ông Bùi Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà K không yêu cầ u, ông P có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở ; tài sản chung và nợ chung không yêu cầ u giả i quyế t nên không xem xé t; về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấ p và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn P cư trú tạ i số * ngõ * đườ ng B, khu T, thị trấn H, huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn và yêu cầu được nuôi con chung khi ly hôn nên xá c đị nh quan hệ phá p luậ t có tranh chấ p trong vụ á n là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung "; bị đơn ông P có hộ khẩu thường trú tại khu T, thị trấn H, huyệ n H, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị K và ông Bùi Văn P kế t hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào tháng 02/1993 theo giấ y chứ ng nhậ n kế t hôn số 06 ngày 08/02/1993 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang cấ p , do vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị K với ông Bùi Văn P là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn mà bà K đưa ra, thấ y rằ ng: Quá trình chung sống giữ a bà Kvà ông P đã xả y ra nhiề u mâu thuẫ n , bản thân ông P cũng thừ a nhậ n mâu thuẫ n vợ chồ ng có phầ n là do ông mắc nợ khiến bà K phải vay tiền trả nợ cho ông và ông cũ ng thừ a nhậ n vợ chồ ng số ng ly thân từ năm

2012 đến nay không cò n quan tâm đế n nhau , tuy nhiên ông P không đồ ng ý ly hôn vớ i cá c lý do như “mẹ đẻ ông vừ a mấ t chưa đượ c 49 ngày, khoản nợ của ông hiện chưa trả nợ xong và các con chưa trưởng thành” , nhữ ng lý do như ông P đưa ra là không phù hợ p vớ i quy đị nh củ a phá p luậ t , không thể hi ện việc ông P mong muố n đoà n tụ , mà chỉ thể hiện mâu thuẫn giữa ông và bà K đã thự c sự trầ m trọng, đờ i số ng chung không thể ké o dà i , mục đích hôn nhân không đạt được nên cầ n chấ p nhậ n yêu cầ u củ a bà Nguyễ n Thị K cho bà K đượ c ly hôn vớ i ông Bùi Văn P.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễ n Thị K và ông P có 02 ngườ i con chung là Bùi Thanh S, sinh năm 1993 và Bùi Thanh H, sinh ngày 19/5/2003. Cháu Bùi Thanh S hiệ n đã trưở ng thà nh, Hộ i đồ ng xé t xử không xem xét. Còn đối với cháu Bùi Thanh H: bà Nguyễ n Thị K yêu cầu được nuôi, ông Bùi Văn P cũng đồng ý . Xét việc tự thỏa thuận trên của các đương sự là tự nguyệ n và cũ ng phù hợ p vớ i ý kiế n nguyệ n vọ ng củ a chá u Bùi Thanh H là muốn đượ c ở vớ i mẹ khi bố mẹ ly hôn , nên chấ p nhậ n giao chá u Bùi Thanh H cho bà Nguyễ n Thị K được trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông Bùi Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà K không yêu cầ u và ông P có quyền đi lại thăm nom con chung không ai đượ c ngăn cả n.

Về tài sản chung và nợ chung : không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sung Ngân sách nhà nước theo quy đị nh tạ i khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để sung Ngân sách nhà nước.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K, cho bà Nguyễn Thị K đượ c ly hôn vớ i ông Bùi Văn P. (Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 08/02/1993 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang cấ p).

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thanh H, sinh ngày 19/5/2003 cho bà Nguyễ n Thị K đượ c trực tiếp nuôi dưỡ ng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Bùi Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà K không yêu cầ u . Ông Bùi Văn P có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm sung ngân sá ch Nhà nướ c . Số tiền án phí trên được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị K đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí

, lệ phí toà án số AA /2016/0000123 ngày 23/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng , tỉnh Lạng Sơn, nay bà Nguyễn Thị K không phải nộp tiếp nữa.

4. Về quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ