vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chị Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn anh Tô Văn P.

Về con chung: Xác nhận chị N, anh P có 01 con chung là cháu Tô Thị Kim P, sinh ngày 28/10/2011. Giao cháu P cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có yêu cầu khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P đến khi có thay đổi khác. Anh P có quyền thăm nom con chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chị Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn anh Tô Văn P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
* * * *
Bản án số: 34 /2019/HNGĐ-ST.
Ngày 30/5/2019.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: Tranh chấp HNGĐ:

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tƣởng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Trọng

2. Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Mạnh Hà, thư ký TAND huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà

Triệu Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/5/2019 tại Trụ sở TAND huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2019/TLST-HNGĐ ngày 10/4/2019 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1990. Đăng ký HKTT: Thôn Yên Khê, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Hiện cư trú tại: Thôn Yên Kiện, xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Tô Văn P, sinh năm 1991. Đăng ký HKTT và cư trú: Thôn Yên Khê, xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin và các bản tự khai của chị Nguyễn Thị Hằng N trình bày:

Chị có đăng ký kết hôn với anh Tô Văn P, sinh năm 1991 tại UBND xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ vào ngày 03/3/2011 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, xuất phát từ việc quan điểm sống, lối sống luôn bất đồng, anh P không chăm lo đến vợ con, anh chị sống ly thân nhau từ năm 2016 đến nay. Nay

- 2 -

chị thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Tô Thị Kim P, sinh ngày 28/10/2011 hiện đang ở cùng anh P. Nếu được ly hôn chị xin nuôi cháu P, không yêu cầu anh P phải đóng góp nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Tô Văn P xác nhận và trình bày: Anh có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1990 tại UBND xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ vào ngày 03/3/2011 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có những mâu thuẫn bất hòa xuất phát từ việc quan điểm sống, lối sống. Hai vợ chồng ly thân nhau từ năm 2016 đến nay. Nay chị N khởi kiện xin ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Tô Thị Kim P, sinh ngày 28/10/2011. Nếu ly hôn anh xin được nuôi cháu P cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu đóng góp nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay chị N vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P và xin được nuôi con chung.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả do anh Phương không có mặt tại phiên hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ có ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự, tạo điều kiện cho các bên được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N. Về hôn nhân xử chị N được ly hôn với anh P. Về con chung: Giao cháu Tô Thị Kim P cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P đến khi có thay đổi khác. Chị N phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị N đã làm đơn khởi kiện theo mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay anh P vắng mặt và có

- 3 -

đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

. Về nội dung: Hôn nhân giữa chị N và anh P trên cơ sở có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng không bảo ban được nhau, vợ chồng có quá nhiều điểm bất đồng trong lối sống, quan điểm sống. Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị N và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị N có đơn đề nghị ly hôn với anh P là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Vợ chồng anh, chị có 01 con chung là cháu Tô Thị Kim P, sinh ngày 28/10/2011; khi ly hôn chị N, anh P đều xin được nuôi cháu P, xét yêu cầu của chị N và anh P hoàn toàn chính đáng, tuy nhiên theo nguyện vọng của cháu P là cháu xin ở với mẹ, mặt khác cháu P còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu P cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P đến khi có yêu cầu khác. Anh P có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

[4.] Về tài sản chung: Chị N, anh P đều thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung và không vay nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án xử thì chị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chị Nguyễn Thị Hằng N được ly hôn anh Tô Văn P.

Về con chung: Xác nhận chị N, anh P có 01 con chung là cháu Tô Thị Kim P, sinh ngày 28/10/2011. Giao cháu P cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có yêu cầu khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi

- 4 -

con chung cho anh P đến khi có thay đổi khác. Anh P có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên đều thừa nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hằng N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2015/0003928 ngày 09/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ.

Áp dụng Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự báo chị N biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

TM.HỘI ĐỒNG XETSD XỬ

Cỡ chữ