vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T về việc xin ly hôn với ông Le, Son N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thu T được ly hôn với ông Le, Son N. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "T - N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T về việc xin ly hôn với ông Le, Son N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30/10/2019
V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Bắc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Thanh Liên

2. Ông Hoàng Văn Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Quyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Doan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/9/2019; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 08/2019/QĐTĐ ngày 21/10/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thu T, sinh năm 1989

Địa chỉ: thôn 5, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

2. Bị đơn: Ông Le, Son N, sinh năm 1986

Địa chỉ: GA, USA.

Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Ông Phan Minh Đ, sinh năm 1979. Địa chỉ: 569, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 17/4/2019, bản tự khai ngày 27/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: được em gái ở Hoa Kỳ giới thiệu, bà T quen với ông Le, Son N từ tháng 01/2017, trò chuyện qua điện thoại thấy hợp nhau nên tiến tới hôn nhân, làm tiệc ra mắt gia đình, tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 03/11/2017.

Sau khi đăng ký kết hôn, ông Le, Son N sống tại Việt Nam một tháng rồi quay về Hoa Kỳ. Thời gian đầu ông thường điện thoại hỏi thăm, hứa bảo lãnh bà sang Hoa Kỳ. Nhiều lần bà hối thúc nhưng ông Le, Son N viện lý do bận rộn, chưa làm thủ tục bảo lãnh. Từ giữa năm 2018 đến nay ông Le, Son N không còn liên lạc với bà nữa. Bà cho rằng vì khoảng cách địa lý nên cả hai không có sự cảm thông, không muốn liên hệ với nhau nữa, không muốn tiếp tục duy trì hôn nhân.

Nay, cảm thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể hòa hợp, trong thâm tâm vợ chồng không còn yêu thương nhau, hôn nhân không đạt được mục đích, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Le Son N.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Theo bản tự khai ngày 17/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Le, Son N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với trình bày của bà T về quá trình kết hôn, chung sống. Sau khi đăng ký kết hôn, ông sống tại Việt Nam một tháng thì quay về Hoa Kỳ. Ông thường xuyên điện thoại hỏi thăm, hứa bảo lãnh bà T sang Hoa Kỳ, nhưng chưa làm thủ tục vì công việc bận rộn. Từ giữa năm 2018, ông không liên lạc với bà T nữa vì thấy không hợp nhau.

Ông cảm thấy do khoảng cách địa lý, ông và bà T không có sự cảm thông cho nhau, không muốn liên hệ với nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đồng ý ly hôn với bà T.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T, xử cho bà T được ly hôn với ông Le, Son N; không xem xét giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung vì các đương sự thống nhất khai không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Bà Phạm Thu T là người có quốc tịch Việt Nam, cư trú tại huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu yêu cầu ly hôn với ông Le, Son N là người có quốc tịch Hoa Kỳ, có thời gian cư trú tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Việt Nam trước khi sang Hoa Kỳ, nên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người tham gia tố tụng đến phiên tòa sơ thẩm. Bà Phạm Thu T có đơn đề nghị không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; ông Le, Son N vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 4 Điều 207 không tổ chức hòa giải; căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định tiếp tục phiên tòa, xét xử vắng mặt ông Le, Son N.

[2.] Về nội dung:

[2.1.] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Phạm Thu T và ông Le, Son N là hôn nhân hợp pháp, vì ông bà tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 03/11/2017. Sau khi kết hôn, ông Le, Son N sống tại Việt Nam một tháng, rồi quay về Hoa Kỳ, thời gian đầu thường xuyên điện thoại hỏi thăm, nhưng từ giữa năm 2018 thì không liên lạc với bà T nữa. Vì khoảng cách địa lý, vợ chồng thiếu sự cảm thông không còn muốn liên hệ với nhau, cũng không muốn duy trì hôn nhân. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng là có thật và trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên có cơ sở cho bà Phạm Thu T ly hôn với ông Le, Son N.

[2.2.] Về con chung: không xem xét vì bà Phạm Thu T và ông Le, Son N xác định không có.

[2.3.] Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét vì bà Phạm Thu T và ông Le, Son N xác định không có.

[3.] Án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm b khoản 1 Điều 470; Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, các Điều 147, 474, 475 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thu T về việc xin ly hôn với ông Le, Son N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thu T được ly hôn với ông Le, Son N.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Phạm Thu T nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo biên lai thu số TU/2017/0008380 ngày 02/5/2019, nên đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (30/10/2019), bà Phạm Thu T có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo đối với ông Le, Son N là 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ