- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Dương Thúy V và ông Nguyễn Thành T"
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST Ngày: 08-5-2019 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
Ông Nguyễn Văn My.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thúy V, sinh năm 1988 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Ấp G, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 01 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thúy V trình bày: Bà và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2007 đến nay. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Trong quá trình chung sống bà và ông T có một người con chung tên Dương Thùy D, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2007, con chung do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Đối với ông Nguyễn Thành T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông T vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Thúy V yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thành T, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Thành T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thành T.
Về quan hệ hôn nhân : Bà Dương Thúy V và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa bà V và ông T không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Dương Thúy V và ông Nguyễn Thành T.
Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà V và ông T có một người con chung tên Dương Thùy D, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2007, con chung do bà V đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thu lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thành T nhưng ông Nguyễn Thành T không có ý kiến gì về việc yêu cầu nuôi con chung của bà V. Từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau đến nay con chung do bà V trực tiếp nuôi dưỡng, bà V có đủ điều kiện để nuôi con chung và người con chung Dương Thùy D có nguyện vọng được chung sống với bà V. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V việc được trực tiếp nuôi con chung, giao người con chung tên Dương Thùy D, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2007 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà V, ông T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm V phải chịu 300.000đ, bà V đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
* Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Dương Thúy V và ông Nguyễn Thành T.
- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Dương Thùy D, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2007 cho bà Dương Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bà Dương Thúy V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0007469 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, Bà Dương Thúy V có quyền khá ng cá o bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Thành T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều |