- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/DS-ST Ngày: 16/10/2019 V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Thế Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 16/10/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2019/TLST-DS ngày 08/3/2018 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-DS ngày 18/7/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2019/QĐST-DS ngày 07/8/2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng D.
Địa chỉ: Số 25 Bis Nguyễn Thị Minh K, phường B, Quận A, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – C/v: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Bảo H – C/v: Giám đốc trung tâm kiêm trưởng phòng xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tấn Đ1 – C/v: Chuyên viên quan hệ khách hàng (văn bản uỷ quyền số 39/2019/UQ-HDBank-TPXLN ngày 18/02/2019); Có mặt.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th; Cùng trú tại: Thôn A, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Vĩnh T1 và chị Nguyễn Thị Bích L; Trú tại: Thôn A, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
2. Anh Lê Văn H; trú tại: Đội 7, thôn N, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn, Nguyễn Tấn Đ trình bày:
Vào ngày 12/12/2017 Ngân hàng D đã cho ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th vay số tiền 175.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng), lãi suất 10,7%/ năm, thời hạn vay 11 tháng 29 ngày, ngày đến hạn 11/12/2018, theo hợp đồng tín dụng số 2095/17/HĐTDHM-CN/111 ký ngày 12/12/2017. Mục đích vay là bổ sung vốn đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu. Khi vay ông T, bà Th có bảo đảm các tài sản cụ thể như sau:
- Thửa đất số 360, tờ bản đồ số 18 được Ủy ban nhân dân huyện K (Nay thị xã
B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 946425 ngày 10/10/2006
đứng tên hộ ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th.
- Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 12 được Ủy ban nhân dân huyện K (Nay thị xã
B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 946440 ngày 10/10/2006
đứng tên Trần Thị K, đã được tặng cho ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị
Thu Th theo hồ sơ số 4803 ngày 04/11/2014.
Do ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, cụ thể khách hàng đã không trả gốc, lãi cho Ngân hàng khi khoản vay đến hạn ngày 11/12/2018 cho đến nay, mặc dù Ngân hàng đã tạo điều kiện nhưng đến nay ông Thái, bà Thủy không trả được nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 18/02/2019, tổng số tiền ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th còn nợ Ngân hàng là 200.545.476 đồng, trong đó nợ gốc là 175.000.000 đồng, lãi trong hạn là 18.762.916 đồng, lãi quá hạn là 6.872.560 đồng. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T, bà Th trả số tiền gốc là 175.000.000 đồng và phần nợ lãi phát sinh đối với nợ còn lại theo mức thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng D kể từ ngày 19/02/2019 đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị cho Ngân hàng yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp cho ngân hàng D. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th thì ông T, bà Th vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H trình bày: Ông H là con rể của ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th. Trước khi ông T, bà Th bỏ đi thì có giao cho ông H chăm sóc và quản lý 02 lô rẫy mà ông T, bà Th đã thế chấp cho Ngân hàng, quá trình quản lý ông H không đầu tư xây dựng hay trồng trọt gì trên đất nên Ngân hàng khởi kiện buộc bố mẹ ông H trả nợ thì ông H không có liên quan gì đề nghị Tòa án không triệu tập tôi tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông H.
Bị đơn, ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Vĩnh T1, chị Nguyễn Thị Bích L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặc nơi cư trú, mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng buộc ông T, bà Th liên đới phải trả cho Ngân hàng D, tổng số tiền 200.545.476 đồng; Trong đó: Nợ gốc 175.000.000 đồng; nợ lãi 25.545.476 đồng (tính đến ngày 18/02/2019) và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 19/02/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng đã ký. Về tài sản thế chấp trường hợp ông T, bà Th không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tra nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Việc Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Ngân hàng D với bị đơn ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã được Toà án giao các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vĩnh T1, bà Nguyễn Thị Bích L không chấp hành theo giấy triệu tập, không lên Tòa án để trình bày ý kiến của mình cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án giải quyết vụ án theo những căn cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 18/7/2019 Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng phía bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa, đồng thời bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa ngày 29/8/2019 HĐXX xét thấy cần phải giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th và tiến hành lấy lời khai của ông Lê Văn H về việc quản lý, chăm sóc tài sản thế chấp nên Tòa án tạm ngừng phiên tòa để điều tra thu thập chứng cứ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 259 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng D, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Vào ngày 12/12/2017 giữa Ngân hàng Ngân hàng D với vợ chồng ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th có ký hợp đồng vay số tiền là 175.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, từ ngày 12/12/2017 đến ngày 12/12/2018, lãi suất cho vay 10,7%/năm tại thời điểm Ký hợp đồng cho vay; mục đích vay bổ sung vốn đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu.
Để đảm bảo cho khoản vay nói trên vợ chồng ông T, bà Th có ký 02 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1422/14/HĐBĐ-111 ngày 24/12/2014 và Hợp đồng thế chấp số: 1225/14/HĐBĐ-111 ngày 26/11/2014 với Ngân hàng và được công chứng tại phòng công chứng Đ. Hai hợp đồng thế chấp đã được công chứng chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 946440 do UBND huyện K cấp ngày 10/10/2006, đứng tên bà Trần Thị K, bà K tặng cho ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th ngày 04/11/2014 đối với Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.944 m2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 946425 do UBND huyện K cấp ngày 10/10/2006, đứng tên hộ ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th đối với Thửa đất số 360, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.499 m2, hai lô đất đều tọa lạc tại xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk);
Đến ngày 12/12/2018 là ngày đến hạn trả nợ theo hợp đồng vay hai bên đã ký kết. Tuy nhiên ông T, bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và lãi theo như hợp đồng đã ký kết.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thiết lập hợp đồng tín dụng số 2095/17/HĐTDHM-CN/111 ký ngày 12/12/2017 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th tuy không có công chứng, chứng thực nhưng hợp đồng thế chấp có công chứng, chứng thực tại phòng công chứng Đ. Căn cứ tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Những tình tiết, sự kiện đã được ghi nhận trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp…” thì không phải chứng minh. Mặt khác tại kết luận giám định số 91/PC09 ngày 19/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Lắk thì chữ ký của ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th tại hợp đồng tín dụng 2095/17/HĐTDHM-CN/111 ký ngày 12/12/2017 và chữ ký của ông Nguyễn Vĩnh T và bà Trương Thị Thu Th tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã được công chứng chứng thực là cùng một người ký và viết ra. Như vậy việc ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th vay của Ngân hàng số tiền 175.000.000 đồng là có thật, việc xác lập hợp đồng vay tiền giữa các bên hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đây là giao dịch hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên cho vay tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 463 Bộ luật dân sự nhưng ông T, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự. Việc ông T, bà Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà Th trả số tiền nợ gốc 175.000.000 đồng và lãi 25.545.476 đồng (tính đến ngày 18/02/2019), đồng thời thu toàn bộ số tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 19/02/2019 theo hợp đồng đã ký cho đến khi ông T, bà Th trả hết nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 02 hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1422/14/HĐBĐ-111 ngày 24/12/2014 và Hợp đồng thế chấp số: 1225/14/HĐBĐ-111 ngày 26/11/2014 đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi nợ là phù hợp Điều 8 Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và phù hợp với khoản 2 Điều 95 Luật tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí:
Ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 161, Điều 162, Điều 205, Điều 207, Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng D. Buộc ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th phải trả cho Ngân hàng D số tiền là 200.545.476 đồng (Hai trăm triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó tiền nợ gốc là 175.000.000 đồng, tiền lãi 25.545.476 đồng (tính đến ngày 18/02/2019).
Kể từ ngày 19/02/2019 ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trong trường hợp ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng D thì Ngân D có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự thị xã B xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 946440 do UBND huyện K cấp ngày 10/10/2006 đứng tên bà Trần Thị K, bà K tặng cho ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th ngày 04/11/2014 đối với Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.944 m2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 946425 do UBND huyện K cấp ngày 10/10/2006, đứng tên hộ ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th đối với Thửa đất số 360, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.499 m2 địa chỉ hai thửa đất tại xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk để thu hồi nợ.
2. Về án phí:
Bị đơn ông Nguyễn Vĩnh T, bà Trương Thị Thu Th phải chịu 10.027.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho Ngân hàng D 5.013.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2017/0011396 ngày 06/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.
Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tx Buôn Hồ; - Chi cục THADS tx Buôn Hồ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Anh Tuấn |