vanban.org

Bản án 34/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 30/10/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: kho n 2 Điều 308 của Bộ lu t tố tụng d n sự;

Chấp nh n một phần kháng cáo của bà Trương Thị Đ; S a b n án sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 12/4/2019 của T a án nh n d n huyện S, t nh Ninh Thu n. Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phậm"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: kho n 2 Điều 308 của Bộ lu t tố tụng d n sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2019/DS-PT
Ngày: 30-10-2019
V/v: Yêu cầu bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N N TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Được

Ông Hàng Lâm Viên

- Thư ký phiên tòa: Bà V Thị i Thu - Thư k T a án nh n d n t nh Ninh Thu n

- Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chuốt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019 tại T a án nh n d n t nh Ninh Thu n t phúc thẩm công khai vụ án thụ l số 29/2019/TLPT-DS ngày 24 tháng 7 năm 2019 về việc“Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do b n án d n sự sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Toà án nh n d n huyện S, t nh Ninh Thu n bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t phúc thẩm số 42/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên t a số 25/2019/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Đ, sinh năm: 1954 (có mặt);

Địa ch : Thôn P, xã L, huyện S, t nh Ninh Thu n.

2. Bị đơn: Công ty P;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn – Giám đốc (vắng mặt).

Địa ch : Thôn H, xã L, huyện S, t nh Ninh Thu n.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. NLQ1, sinh năm: 1975 (vắng mặt);

3.2. NLQ2, sinh năm: 1977 (vắng mặt);

3.3. NLQ3, sinh năm: 1979 (vắng mặt);

3.4. NLQ4, sinh năm: 1974 (vắng mặt);

3.5. NLQ5, sinh năm: 1985 (vắng mặt).

Cùng địa ch : Thôn P, xã L, huyện S, t nh Ninh Thu n.

Người đại diện theo ủy quyền của NLQ1, NLQ2, NLQ3, NLQ4, NLQ5: Bà Trương Thị Đ, sinh năm: 1954. Địa ch : Thôn P, xã L, huyện S, t nh Ninh Thu n (có mặt).

4. Người kháng cáo: Bà Trương Thị Đ là nguyên đơn.

NỘI UNG V N

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2016 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Đ trình bày:

Năm 1990, vợ chồng bà y dựng căn nhà cấp 4A, có diện tích 155,62m2 tại thôn P, xã L, huyện S. Năm 2012, Công ty P nổ mìn thực hiện dự án thủy điện đã làm nh hưởng đến kết cấu căn nhà của bà như nứt tường, rách mái tôn, hư hỏng sàn gác l ng nhà bà. Việc Công ty P nổ mìn làm nh hưởng đến kết cấu của nhà bà, bà có đến báo với ông C (giám đốc Công ty) và được ông C cho người đến cùng Ủy ban nh n dân (UBND) xã L kiểm tra, l p biên b n và hứa cam kết sẽ bồi thường cho bà thỏa đáng. Năm 2014, Công ty đưa b ng giá chi phí s a chữa và hỗ trợ 20.895.000 đồng, bà không đồng vì bà cho rằng không thỏa đáng, qua thỏa thu n Công ty tăng lên chi phí s a chữa 30.000.000 đồng bà không đồng , với chi phí thẩm định lần hai là 36.047.039 đồng bà c ng không đồng vì theo bà số tiền trên không đủ chi phí s a chữa, vì v y bà khởi kiện tại T a án và yêu cầu Công ty y dựng cho bà căn nhà mới với diện tích 1/2 căn nhà c .

Tại biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Công ty P trình bày:

Công ty P là đơn vị chủ đầu tư dự án thủy điện ạ Sông Pha. Trong quá trình thực hiện dự án, Công ty đã hợp đồng với Công ty y dựng T thực hiện việc nổ mìn và Công ty y dựng T đã được UBND t nh Ninh Thu n cấp giấy ph p v t liệu nổ và được ph p thực hiện nổ mìn thi công y dựng nhà máy thủy điện ạ Sông Pha. Quá trình thực hiện việc nổ mìn, Công ty y dựng T đã tu n thủ đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền về việc nổ mìn, nhà bà Đ nằm trong bán kính 200m có thể bị nh hưởng dư chấn từ việc nổ mìn của Công ty T, tuy nhiên c ng không có căn cứ khẳng định chắc chắn việc nứt nhà bà Đ là do việc nổ mìn của Công ty. Tại thời điểm nổ mìn, bà Đ có yêu cầu Công ty bồi thường việc nứt tường nhà c ng như các mái tôn bị đá văng làm thủng, qua em t Công ty và đơn vị thi công đã thương th o với bà Đ hỗ trợ 20.895.000 đồng trên cơ sở biên b n ác minh hiện trạng nhà của đoàn kiểm kê vết nứt của căn nhà nhưng bà Đ không đồng và yêu cầu bồi thường 80.000.000 đồng nên Công ty không đồng . Trong phạm vi bán kính có thể nh hưởng 200m có 243 hộ, có 242 hộ đã nh n tiền nhà thầu chi tr , ch có hộ bà Đ nhiều lần thương th o vẫn không đồng nên Công ty yêu cầu T a án căn cứ pháp lu t gi i quyết.

Tại b n án sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 12/4/2019 của T a án nh n d n huyện S, t nh Ninh Thu n quyết định:

Căn cứ vào Điều 584, 585, 589 Bộ lu t d n sự năm 2015; Điều 147, 157 và Điều 228 của Bộ lu t tố tụng d n sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n l và s dụng án phí, lệ phí T a án;

Tuyên :

Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ.

Buộc Công ty P ph i bồi thường cho bà Trương Thị Đ số tiền 36.047.037 đồng.

Ngoài ra, b n án c n tuyên về án phí, chi phí định giá, quyền và nghĩa vụ của các bên thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 24/4/2019, bà Trương Thị Đ kháng cáo toàn bộ b n án số 04/2019/DS-ST ngày 12/4/2019 của T a án nh n d n huyện S, t nh Ninh Thu n. Nội dung kháng cáo: Yêu cầu T a án nh n d n t nh Ninh Thu n buộc Công ty P bồi thường thiệt hại gây ra đối với căn nhà cấp 4 diện tích 115,62m2, nhà tắm diện tích 3m2 và tầng gác diện tích 91,3m2 cho bà Trương Thị Đ hoặc y lại nhà cho bà Trương Thị Đ theo biên b n kiểm kê, đánh giá ngày 28/11/2013. Trong quá trình gi i quyết tại T a án cấp phúc thẩm, bà Đ ác định yêu cầu kháng cáo cụ thể: Yêu cầu Công ty P ph i bồi thường cho bà số tiền là 150.000.000 đồng.

Tại phiên t a, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nh n d n t nh Ninh Thu n phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: ội đồng t , Thư k và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ lu t tố tụng d n sự từ khi T a án cấp phúc thẩm thụ l vụ án cho đên thời điểm t tại phiên t a.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên t a, đề nghị ội đồng t chấp nh n một phần kháng cáo của bà Trương Thị Đ. Buộc Công ty P ph i bồi thường cho bà Trương Thị Đ 67.540.000 đồng.

ua nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương s đ được thẩm tra tại phiên tòa.

au khi i đồng t ph c thẩm nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng

Công ty P đã được T a án triệu t p hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên t a. Căn cứ kho n 3 Điều 296 Bộ lu t tố tụng d n sự, ội đồng t

t vắng mặt Công ty P.

Tại biên b n lấy lời khai ngày 06/8/2019 thể hiện căn nhà cấp 4 là do vợ chồng bà Trương Thị Đ y dựng vào năm 1990. Năm 2008, chồng bà Trương Thị Đ là ông Phan Văn T chết không để lại di chúc, vợ chồng bà Đ sinh được 05 người con, T a án cấp sơ thẩm đã ác định và đưa 03 người c n của vợ chồng ông Đát là NLQ1, NLQ2, NLQ3 vào tham gia tố tụng nhưng không đưa 02 người con c n lại là NLQ4, NLQ5 tham gia tố tụng là thiếu sót. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm NLQ4, NLQ5 đã ủy quyền cho bà Đ tham gia tố tụng và không có kiến khiếu nại gì nên ội đồng t phúc thẩm chấp nh n.

Công ty P là đơn vị chủ đầu tư đối với dự án thủy điện ạ Sông Pha, Công ty y dựng T là đơn vị k hợp đồng thi công với Công ty P để thực hiện việc nổ mìn trong quá trình thực hiện dự án vì v y, việc T a án cấp sơ thẩm đưa Công ty y dựng T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không chính xác.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ội đồng t

phúc thẩm t thấy: Cấp sơ thẩm ác định quan hệ pháp lu t cần gi i quyết “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” là phù hợp.

X t kháng cáo của bà Trương Thị Đ về việc yêu cầu Công ty P ph i bồi thường cho bà số tiền 150.000.000 đồng, ội đồng t phúc thẩm thấy:

Căn cứ vào biên b n ác minh ngày 03/7/2012 (BL 06), biên b n kiểm kê, đánh giá số 123/BB-ĐKK-ĐG ngày 28/11/2013 (BL 02), Công văn số 24/2019/CV-TĐ ngày 25/3/2019 của Công ty y dựng T (BL 191) và Công văn số 473/SCT-CN ngày 27/3/2019 của Sở A t nh Ninh Thu n (BL 197), T a án cấp sơ thẩm ác định Công ty P là chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Trương Thị Đ là phù hợp.

Căn cứ vào Biên b n định giá ngày 30/3/2017 (BL 42) và B ng tổng hợp kinh phí của Công ty X (BL 47), T a án cấp sơ thẩm ác định giá trị thiệt hại của căn nhà là 36.047.039 đồng và buộc Công ty P bồi thường cho bà Đ số tiền 36.047.039 đồng là đúng. Tuy nhiên, theo đơn yêu cầu định giá trong giai đoạn phúc thẩm của bà Trương Thị Đ, T a án cấp phúc thẩm đã mời Công ty V thực hiện việc định giá tài s n thiệt hại. Tại chứng thư thẩm định giá số 9019-06-CT-BTCVALUE của Công ty V đã ác định việc áp dụng tính khấu hao của căn nhà theo phương pháp tuổi đời là thiệt th i cho bà Đ, vì thực tế hiện nay căn nhà này vẫn c n giá trị s dụng nên Tổ chức thẩm định giá áp dụng phương pháp chuyên gia để ác định tỷ lệ hao m n từ thời điểm nổ mìn lần đầu tháng 5/2012 đến thời điểm thẩm định giá tháng 9/2019 và tính giá trị tài s n bị thiệt hại là 67.540.000 đồng là phù hợp thực tế. Do đó, có căn cứ để buộc Công ty P bồi thường cho bà Trương Thị Đ số tiền 67.540.000 đồng.

Từ những ph n tích và l p lu n nêu trên, T a án cấp phúc thẩm chấp nh n một phần nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Đ; Chấp nh n quan điểm gi i quyết của Kiểm sát viên tại phiên t a.

Về chi phí định giá tài s n và án phí:

Về chi phí định giá tài s n: Công ty P ph i chịu 10.122.000 đồng. Công ty P có trách nhiệm hoàn tr cho bà Trương Thị Đ 10.122.000 đồng.

Về án phí:

Do s a b n án sơ thẩm nên bà Đ không ph i chịu án phí phúc thẩm.

Án phí d n sự sơ thẩm được tính lại như sau:

Công ty P ph i chịu 3.377.000 đồng (cách tính: 67.540.000 đồng 5%)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: kho n 2 Điều 308 của Bộ lu t tố tụng d n sự;

Chấp nh n một phần kháng cáo của bà Trương Thị Đ; S a b n án sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 12/4/2019 của T a án nh n d n huyện S, t nh Ninh Thu n.

Căn cứ vào các điều 584, 585, 589 Bộ lu t d n sự năm 2015; các điều 147, 148, 165, 296 của Bộ lu t tố tụng d n sự; các điều 12, 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n l và s dụng án phí, lệ phí T a án;

Tuyên xử:

Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ.

Buộc Công ty P ph i bồi thường cho bà Trương Thị Đ số tiền 67.540.000 đồng.

Về chi phí định giá tài s n: Công ty P ph i chịu 10.122.000 đồng chi phí định giá tài s n. Công ty P có trách nhiệm hoàn tr cho bà Trương Thị Đ 10.122.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành ong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 của B luật dân s 2015 tương ng với thời gian chưa thi hành án.

Về án phí:

Bà Trương Thị Đ không ph i chịu án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm. oàn tr cho bà Đ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0012256 ngày 08/11/2016 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện S, t nh Ninh Thu n.

Công ty P ph i chịu 3.377.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân s .

Án phúc thẩm công khai có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày 30/10/2019)./.

Cỡ chữ