- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HS-ST Ngày: 27 - 9 – 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Quy.
Bà Đàm Thiếu Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Hinh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1991 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu A, thị trấn K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị N; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Năm 2013, bị cáo bị Công an huyện Tràng Định ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 26/6/2018 đến ngày 03/8/2018 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh; có mặt.
- Bị hại: Trần Triệu B, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu A, thị trấn K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Trần Văn Đ, vắng mặt;
2. Chị Trần Thị D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/6/2018, Phạm Văn Đ hỏi vay tiền cậu ruột là Trần Triệu B nhưng không được nên đến khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 18/6/2018, khi thấy xe ô tô nhãn hiệu Mercedes biển kiểm soát 29B.603.40 của Trần Triệu B đang dừng đón khách ở bến xe vãng lai thuộc khu A, thị trấn K, huyện T, Phạm Văn Đ đã dùng cờ lê loại cỡ 22, dài 25cm đập vỡ kính chắn gió cửa bên trái đằng sau của xe ô tô. Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 20/8/2018, Phạm Văn Đc tiếp tục dùng cơ lê đập vào kính chắn gió cửa bên phải đằng sau xe ô tô bị vỡ vụn. Lái xe là anh Trần Văn Đ và phụ xe chị Trần Thị D đã báo cho anh Trần Triệu B biết và trình báo cơ quan Công an huyện Tràng Định yêu cầu xử lý Phạm Văn Đ theo quy định.
Ngày 22/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: Kính chắn gió ở hai cánh cửa phía sau xe ô tô nhãn hiệu Mercedes biển kiểm soát 29B.603.40 có tổng giá trị tài sản là 3.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSTĐ ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị hại anh Trần Triệu B thừa nhận lời khai của bị cáo là đúng và xác nhận sau khi sự việc xảy ra, vợ bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại về tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, áp dụng khoản 1, Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 06 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy chiếc cờ lê dài 25cm, cỡ 22, màu bạc thu giữ của bị cáo. Không đề nghị xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự do bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại vì đã thỏa thuận xong. Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Phạm Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Bị hại Trần Triệu B không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có căn cứ để xác định được trong các ngày 18/6/2018 và ngày 20/6/2018, Phạm Văn Đ đã dùng chiếc cờ lê cỡ 22, dài 25 cm đập vào hai cánh cửa kính chắn gió cửa sau xe ô tô nhãn hiệu Mercedes biển kiểm soát 29B.603.40 của Trần Triệu B gây hư hỏng hoàn toàn với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ để khẳng định, bị cáo Phạm Văn Đ đã có hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Phạm Văn Đ là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được hành vi do mình gây ra là vi phạm pháp luật, nhưng thay vì có hành vi cư xử đúng mực với cậu ruột của mình thì bị cáo lại chọn cách cư xử trái pháp luật. Hành vi của bị cáo mang tính chất côn đồ, do đó, cần phải xét xử bị cáo ra trước pháp luật nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác. Để có mức án thỏa đáng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Về nhân thân: Bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng năm 2013, đã bị Công an huyện Tràng Định ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau nên không được coi là có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi gây án, bị cáo và vợ đã chủ động tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại. Tại phiên tòa, bị hại có ý kiến đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh về điều kiện kinh tế của bị can ngày 08/8/2018 thể hiện bị cáo là lao động tự do, không sở hữu tài sản gì. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, do vật chứng của vụ án là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại và bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo Phạm Văn Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a, Điều 47, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, khoản 2, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tỉnh từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/9/2018. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn giám sát trong hạn thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cờ lê màu bạc, dài 25 cm, loại cỡ 22.
(vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Bẩy |