vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Tuyên án 16/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 8 năm 2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ LỘC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

─────────
Bản án số: 34/2018/HS-ST
Ngày 16-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Như Huấn.

Bà Vũ Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Thương, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Thiều Thị Lan Anh, là Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018, đối với:

Bị cáo Nguyễn Xuân P, sinh năm 1985 tại tỉnh Hà Nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân M và bà Lưu Thị T; vợ, con: Chưa; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 153/2016/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2016 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11 tháng 8 năm 2018, bị tạm giam ngày 20 tháng 8 năm 2018; có mặt.

- Bị hại: Chị Đặng Minh T; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn M, huyện L, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Mạnh C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết từ trước nên khoảng 0 giờ ngày 11 tháng 8 năm 2018, Phạm Mạnh C đã gọi điện rủ bị cáo Nguyễn Xuân P đi trộm cắp cầu sắt dùng để lên xuống vỉa hè lắp trước cửa nhà dân mang đi bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng, bị cáo P đồng ý. C điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM không biển kiểm soát của mình đến đón bị cáo, đi theo Quốc lô A. Đến khoảng 02 giờ sáng cùng ngày, C và bị cáo nhìn thấy trước cửa hàng ăn H của chị Đặng Minh T thuộc tổ dân phố T, thị trấn M, huyện L, tỉnh Nam Định có 01 cầu sắt vỉa hè trước cửa, không có người trông coi nên dừng lại để cậy. Bị cáo dựng xe máy trên vỉa hè, C dùng thanh sắt và mỏ lết mang theo đến cậy chốt hãm của cầu sắt, còn bị cáo kéo chiếc cầu sắt lên. Ngay lúc đó, tổ tuần tra Công an huyện Mỹ Lộc phát hiện bắt quả tang thì C lên xe máy chạy thoát. Tổ công tác đã đưa bị cáo cùng vật chứng về trụ sở Công an huyện Mỹ Lộc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng.

Vật chứng thu giữ là 01 chiếc mỏ lết màu xám đã cũ dài 25cm; 01 thanh kim loại hình trụ đường kính 02cm, dài 60cm, một đầu dẹt; 01 chiếc cầu sắt dùng để lên xuống vỉa hè, có sơn màu, đỏ kích thước (250x50)cm.

Bản kết luận định giá tài sản số 17/2018 ngày 13 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mỹ Lộc kết luận: 01 chiếc cầu bằng sắt dùng để lên xuống vỉa hè, có sơn màu đỏ, kích thước (250x50)cm, có khối lượng 36 kg, có giá trị là 270.000 đồng.

Phạm Mạnh C cùng bị cáo P trộm cắp tài sản ngày 11 tháng 8 năm 2018, hành vi trộm cắp tài sản của C chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc đã ra quyết định xử lý hành chính đối với C về hành vi trộm cắp tài sản.

Chiếc cầu lên xuống bằng sắt, có sơn màu đỏ, kích thước (250x50)cm là tài sản hợp pháp của chị Đặng Minh T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc đã trả lại cho chị T. Chị T không yêu cầu bồi thường gì.

Về chiếc mỏ lết và thanh kim loại hình trụ đã thu giữ, Phạm Mạnh C khai đây là tài sản của C nhặt được trên đường nên đã mang về nhà nhằm mục đích đi trộm cắp tài sản.

Chiếc xe máy nhãn hiệu SYM màu xanh Phạm Mạnh C và bị cáo P sử dụng để trộm cắp tài sản ngày 11 tháng 8 năm 2018, C khai đây là xe C mua của người đàn ông không quen biết ở thành phố H, xe không có biển kiểm soát, không có giấy tờ mua bán. Sau khi bị cáo P bị bắt, C đã mang chiếc xe máy trên bán cho một cửa hàng sắt vụn ở huyện B, tỉnh Hà Nam. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa có kết quả.

Bản cáo trạng số 36/CT-VKSML ngày 15 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo P và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị hại và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân P.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận định giá tài sản, biên bản ghi lời khai của bị hại và người làm chứng cũng như toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết, chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 02 giờ ngày 11 tháng 8 năm 2018, trước cửa nhà chị Đặng Minh T, thuộc tổ dân phố T, thị trấn M, huyện L, tỉnh Nam Định, bị cáo Nguyễn Xuân P đã lợi dụng chị T không có mặt ở nơi để tài sản để chiếm đoạt 01 cầu sắt dùng để lên xuống vỉa hè của chị T, có giá trị 270.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo P có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, do vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi lén lút chiếm đoạt cầu sắt dùng để lên xuống vỉa hè của chị Đặng Minh T là cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, như vậy hành vi này là nguy hiểm cho xã hội. Việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết và cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại quy định tại điểm h khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với Phạm Mạnh C cùng bị cáo P trộm cắp tài sản ngày 11 tháng 8 năm 2018, do giá trị tài sản dưới 02 triệu đồng, bản thân C chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Nên hành vi của C chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Lộc đã ra quyết định xử lý hành chính đối với C về hành vi trộm cắp tài sản là đúng với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ gồm 01 chiếc mỏ lết đã cũ và 01 thanh kim loại hình trụ đây là những đồ vật dùng vào việc phạm tội là vật không có giá trị sử dụng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo P phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 8 năm 2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc mỏ lết màu xám đã cũ dài 25cm và 01 thanh kim loại hình trụ, đường kính 2cm, dài 60cm một đầu dẹt đã thu giữ.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo P phải nộp án phí là 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ