vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 19/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Đức D 01 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lương Đức D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội tàng trữ vận c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--- *** ---
Bản án số:34/2018/HS-ST
Ngày 19/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Hằng

2. Ông Bùi Gia Ruẫn

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Quế – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2018, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2018/HSST ngày 31/5/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXXST-HS ngày 05/6/2018, đối với bị cáo:

Lương Đức D, Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1982, tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 2, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Ông Lương Đức T và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Lê Thị L, có một con sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2018 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea Kar, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

+ Ông Lương Anh T, Sinh năm 1973; vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn 1 B, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần mua túy để sử dụng nên khoảng 08 giờ ngày 10/4/2018, Lương Đức D đi bộ đến khu vực đồi C thuộc xã K, huyện K, thì gặp và đi nhờ xe mô tô của đối tượng tên TH lên thành phố Buôn Ma Thuột để mua ma túy về sử dụng. Khi đến thành phố Buôn Ma Thuột, D gặp một người đàn ông tên H và mua của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Mua ma túy xong, D cất vào túi quần đang mặc trên người và cùng với TH đi chơi lòng vòng ở thành phố Buôn Ma Thuột đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì TH chở D quay về lại huyện K. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi TH chở D về đến đoạn trước cổng chào thôn 2, xã C, huyện K thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Ea Kar đang làm nhiệm vụ tại đây phát hiện bắt quả tang Lương Đức D cùng với tang vật liên quan, còn đối tượng tên TH điều khiển xe mô tô bỏ chạy đi đâu không rõ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01(một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất rắn màu trắng, phát hiện và thu giữ trong túi quần dài phía trước bên phải Lương Đức D đang mặc trên người, Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong và gửi đi giám định.

Tại kết luận giám định số 388/GĐMT-PC54 ngày 16/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1916gam, loại: Hêrôin.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 29/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar truy tố bị cáo Lương Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng nêu trên là đúng, do cần ma tuý để sử dụng nên khoảng 08 giờ ngày 10/4/2018, bị cáo đi bộ đến khu vực đồi C thuộc xã K, huyện K, thì gặp và đi nhờ xe mô tô của đối tượng tên TH lên thành phố Buôn Ma Thuột để mua ma túy về sử dụng. Khi đến thành phố Buôn Ma Thuột, bị cáo gặp một người đàn ông chỉ biết tên H và mua của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Mua ma túy xong, bị cáo cất vào túi quần đang mặc trên người và cùng với TH đi chơi lòng vòng ở thành phố Buôn Ma Thuột đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì TH chở bị cáo quay về lại huyện K. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi TH chở bị cáo về đến đoạn trước cổng chào thôn 2, xã C, huyện K thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Ea Kar đang làm nhiệm vụ tại đây phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra người làm chứng ông Lương Anh T trình bày: Vào chiều ngày 10/4/2018 ông lên Ủy ban nhân dân xã C, huyện K có việc thì được Công an huyện Ea Kar mời chứng kiến việc Công an huyện Ea Kar kiểm tra và thu giữ trên người Lương Đức D 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất rắn màu trắng trong túi quần phía trước bên phải của D, D khai là ma túy mua từ thành phố Buôn Ma Thuột về nên Công an đã thu giữ và tiến hành niêm phong.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Đức D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu huỷ 0,1751 gam hêrôin mẫu vật còn lại sau khi giám định.

Bị cáo đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, không tranh luận gì.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo xác định hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội, phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con cái ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea Kar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea kar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Đức D tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của bị cáo đem cất giữ 0,1916 gam Hêrôin nhằm mục đích sử dụng là phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…

b)…

c) Hêrôin, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XRL-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

………….

2………..

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt; mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Người nghiện ma túy là tự tàn phá sức khỏe, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS đang là vấn nạn của toàn nhân loại. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên vào ngày 10/4/2018, bị cáo đã mua 0,1916 gam Hêrôin và tàng trữ số Hêrôin này nhằm mục đích sử dụng. Cho nên đối với bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Trong vụ án này, đối tượng tên TH là người cho bị cáo đi nhờ xe mô tô lên thành phố Buôn Ma Thuột mua ma túy, đối tượng H là người bán ma túy cho bị cáo trong quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,1751 gam hêrôin mẫu vật còn lại sau khi giám định, đã được niêm phong.

Xét mức hình phạt và về xử lý vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lương Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Đức D 01 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/4/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,1751 gam hêrôin mẫu vật còn lại sau khi giám định, đã được niêm phong.

Về án phí: Bị cáo Lương Đức D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKS huyện EaKar;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa -Chi cục THA huyện EaKar;

- Công an huyện EaKar; -VKS tỉnh Đắk Lắk; -TA tỉnh Đắk Lắk;

- Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;

- Bị cáo, đương sự; -Lưu HS vụ án, VPCQ.

Lê Đình Thanh

Cỡ chữ