vanban.org

Bản án 34/2018/HNGĐPT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị T - Vũ Văn C"
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 34/2018/HNGĐ-PT
Ngày 30-11-2018
V/v tranh chấp ly hôn, chia tài sản
chung, trả nợ chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Ngọc Mai

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tài

Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hương – Thư T a n nh n d n t nh nh Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung – Kiểm s t viên.

Trong các ngày 16, 27 và 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh nh Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLPT-HNGĐ ngày 25/6/2018 về việc “tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, trả nợ chung”.

Do ản n h n nh n và gia nh sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 của T a n nh n d n huyện P, t nh nh Dương bị h ng c o.

Theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐPT-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018, giữa c c ương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1982; trú tại: Ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương, có mặt.

Người ại diện theo uỷ quyền của nguyên ơn: Ông Lê Trọng C, sinh năm 1981. Địa ch : 22/23/18, ường 7, khu phố 3, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 14/7/2017), vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Vũ Văn C, sinh năm 1978. Trú tại: Ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

1. Ông Vũ Đ nh H, sinh năm 1947. Trú tại: Ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H: Ông Nguyễn Văn N – Văn ph ng Luật sư P thuộc Đoàn Luật sư t nh Bình Dương, có mặt.

2. Ông Đặng Văn T, sinh năm 1957. Trú tại: Ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. à Vũ Thị H, sinh năm 1989. Trú tại: Ấp C, xã A, huyện P, t nh Bình Dương, có mặt.

2. Ông Vũ Văn T, sinh năm 1980. Trú tại: Số 214, ấp C, xã A, huyện P, t nh nh Dương, có mặt.

3. Ông ùi Văn H, sinh năm 1975. Trú tại: Số nhà 25, ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương, vắng mặt.

4. Ông Doãn Xuân D, sinh năm 1956. Trú tại: Ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương, có ơn ề nghị xét xử vắng mặt.

5. Ông Phan Quang H, sinh năm 1959. Trú tại: Ấp 2, xã T, huyện Đ, t nh nh Phước, vắng mặt.

6. Ông Trần Duy T, sinh năm 1954. Trú tại: Ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương, vắng mặt.

7. Ông Trần Văn H, sinh năm 1957. Trú tại: Ấp 2, xã T, huyện Đ, t nh Bình Phước, vắng mặt.

8. Sư oàn 7, Qu n oàn 4, ộ Quốc Ph ng. Địa ch : Đường ĐT743 Kp 10, phường P, thành phố T, t nh nh Dương. Đại diện theo ph p luật: Ông Trần Minh C; Chức vụ: Sư oàn Trưởng, vắng mặt.

- Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đ nh H.

NỘI D NG V N:

- Nguyên ơn bà Đặng Thị T và người ại diện theo uỷ quyền của nguyên ơn ng Lê Trọng C trình bày:

- Về hôn nhân: Bà T và ông C chung sống với nhau từ năm 1997, có ăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện P, t nh nh Dương vào năm 2001. Thời gian ầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc nhưng ược một thời gian bà phát hiện vợ chồng có nhiều iểm không hợp nhau. Đến khoảng năm 2011, ph t sinh m u thuẫn do ông C có mối quan hệ với người phụ nữ h c bên ngoài nên bà làm ơn xin ly h n với ông C và ã ược Toà án nhân dân huyện P cho ly hôn bằng Bản án số 39/2015 ngày 30/9/2015 của Toà án nhân dân huyện P và Bản án số 08/2016/HNGĐ-PT ngày 16/3/2016 của Toà án nhân dân t nh nh Dương

- Về con chung: Bà T và ông C có 02 con chung tên Vũ Văn V, sinh năm 1998; Vũ Thị N, sinh năm 2002. Việc nuôi con và cấp dưỡng nu i con ã ược giải quyết theo Bản án số 39/2015 ngày 30/9/2015 của Toà án nhân dân huyện P và Bản án số 08/2016/HNGĐ-PT ngày 16/3/2016 của Toà án nhân dân t nh Bình Dương nên h ng yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông C, bà T có tạo lập ược những tài sản sau:

+ Khoảng 400 cây cao su do ông bà trồng từ 2005 trên ất của ông Vũ Đ nh H. Số cây cao su hiện nay do ông H quản lý và khai thác.

+ Phần ất diện tích 474,1m2, toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương do ông bà mua của ông ùi Văn H vào năm 2009. Trên ất có 01 căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 125m2, nhà ược xây dựng vào khoảng năm 2011, do bà vay tiền của ng Đặng Văn T xây dựng và 01 hàng rào lưới B40 diện tích khoảng 50m2.

+ 01 chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA, biển số xe 61P1- 4840, xe do ông C ứng tên giấy ăng xe và hiện ang quản lý sử dụng.

Về tài sản chung bà T yêu cầu chia i và xin nhận bằng hiện vật vì 03 mẹ con bà hiện tại h ng có nơi ở.

Trước y bà có yêu cầu chia vật dụng trong nhà là 01 m y giặt hiệu Toshiba, 01 tủ lạnh hiệu Toshiba mua từ năm 2009. Nay ng bà tự th a thuận, h ng yêu cầu T a n giải quyết.

- Về nợ chung: Ông C, bà T có vay tiền của ng Đặng Văn T 360.000.000 ồng (ba trăm s u mươi triệu ồng) ể làm nhà và 7,5 ch vàng 9999 tương ương 30.000.000 ồng ể mua ất.

Tại phiên toà ại diện theo ủy quyền của nguyên ơn ng Lê Trọng C trình bày: Nguyên ơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện chia ½ giá trị 400 cây cao su trồng từ 2005 trên ất của ông Vũ Đ nh H. Đối với quyền sử dụng ất mua của ông ùi Văn H tại phiên toà ông Hệ x c ịnh là ông C bà T mua ất từ năm 2009 ến 02 năm sau ông H h ng có iện thắp sáng nên nhờ viết lại dùm ể làm hợp ồng mua iện nên hợp ồng này không có giá trị về việc ông H bán ất cho ông H. Việc thời gian xây nhà bà T x c ịnh lại là xây khoảng năm 2012.

- Bị ơn ng Vũ Văn C trình bày:

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông bà không tạo lập ược tài sản chung gì. Về tài sản mà bà T tr nh bày th ều là của ông Vũ Đ nh H. Bà T yêu cầu chia i tài sản trên, ng h ng ồng ý.

- Về nợ chung: Số tiền 140.000.000 ồng cho ông T vay là của ông H, trong ó có 90.000.000 ồng của ông bà, còn 50.000.000 ồng là của ông H, việc vay mượn vào khoảng th ng 6/2011 nhưng h ng làm giấy tờ gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu ộc lập ông Vũ Đ nh H trình bày:

Về phần ất bà T tranh chấp trồng có 400 c y cao su trên ất của ông. Ông cho rằng cao su là do ông mua về trồng và mướn người chăm sóc từ tháng 7/2006, ông C ch phụ ng i mua c y giống.

Về phần ất diện tích 474,1m2, toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương nguồn gốc ất là do ng ưa tiền cho ông C ể mua ất rẫy, ông C không mua rẫy mà i mua phần ất trên, do ông C ứng tên trên giấy mua b n. Đến khi bà T, ông C xảy ra mâu thuẫn thì ông mới nói ông H là chủ ất cũ làm lại giấy sang nhượng, sau ó ng ứng ra xây dựng căn nhà cấp 4.

Về chiếc xe Yamaha, Biển số xe 61P1-4840 là do ông b tiền mua và nhờ ông C ứng tên.

Nay bà T yêu cầu chia tài sản trên, ng h ng ồng ý vì tất cả là tài sản của ông.

Về số tiền 140.000.000 ồng ông cho ông T vay là tài sản chung của gia nh gồm ng và vợ chồng T, C, số tiền này ng ã rút từ Ngân hàng về ưa cho ông C trực tiếp ưa cho ng Đặng Văn T vay nhưng h ng làm giấy tờ. Nay yêu cầu ông T trả số tiền trên.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông H khai: Bà T rút yêu cầu chia 400 cây cao su ng ồng ý. Về nguồn gốc diện tích ất 474.1m2 là vào năm 2009 ng nhờ ông C i mua ất và ông C ứng tên trên giấy mua b n ất, khoảng hai năm sau ng xây nhà nên gặp ông ùi Văn H viết lại giấy sang nhượng cho ông và ông cầm giấy sang nhượng này mang ưa cho ng Doãn Xu n D trưởng ấp, ông Hoàng Trung N người làm chứng. Đến khi ông xây dựng căn nhà cấp 4 thì ông Tịnh ến xin ứng ra trông nom nhà và mua giùm nguyên vật liệu xây dựng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu ộc lập ông Đặng Văn T trình bày:

Vào năm 2009, ng có cho vợ chồng con g i là bà T, ng C vay số vàng là 7,5 ch vàng 9999 ể mua ất của ông H cùng xóm. Đến năm 2012, v thương con h ng có nhà ở nên ng tiếp tục cho bà T, ng C vay số tiền 360.000.000 ồng ể x y nhà. Ông là người trực tiếp ứng ra mua vật liệu x y dựng thuê người x y. Nay vợ chồng T, C ly h n ng yêu cầu bà T, ng C trả số tiền 360.000.000 ồng và 7,5 ch vàng 9999 tương ương gi trị vàng hiện tại trên thị trường. Về số tiền 140.000.000 ồng ông H yêu cầu ông trả, ông cho rằng ông không vay tiền 140.000.000 ồng nên h ng ồng trả.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H trình bày:

à có hộ hẩu thường trú tại ấp C, xã A, huyện P, t nh nh Dương. Nhưng do hoàn cảnh hó hăn về ch ở nên bà ang tạm trú tại nhà của ng Hợi (nhà ang tranh chấp). à x c ịnh tất cả c c tài sản trên là của ng Hợi và h ng có yêu cầu g . Nay với yêu cầu của bà T, ông C bà yêu cầu T a n giải quyết theo quy ịnh của ph p luật.

Tại bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ng Vũ Văn T trình bày: Về số c y cao su do ng là người trực tiếp ào hố trồng cây, không có việc bà T trồng vì thời iểm ó bà T i làm c ng nhân cạo mủ cao su không có thời gian ể phụ trồng, chăm sóc và tại thời iểm ó ông C, bà T ã ra ở riêng không còn sống chung với ông H nữa. Ông x c ịnh tất cả c c tài sản trên là của ng H và h ng có yêu cầu g . Nay với yêu cầu của bà T, ng C ng yêu cầu T a n giải quyết theo quy ịnh của ph p luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quang H trình bày: Vào năm 1995, ng ược Sư oàn 7 cấp cho một phần ất tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương nay thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66. Năm 1997, ng b n mảnh ất trên cho ông Doãn Xuân D tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương. Phần ất bán cho ông D có chiều ngang khoảng 08 mét, chiều dài 60 mét với giá tiền là 8.000.000 ồng. Ông ã nhận ủ tiền và giao ất cho ông D toàn quyền sử dụng nên h ng c n liên quan g ến phần ất này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Doãn Xu n D tr nh bày: Vào năm 1997, ông có mua của ông Phan Quang H ở xã T, huyện Đ, t nh nh Phước một phần ất có diện tích chiều ngang khoảng 08 mét, chiều dài 60 mét với giá tiền là 8.000.000 ồng thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương. Năm 2000, ng ã b n phần ất này cho ông Trần Văn H ở xã T, huyện Đ, t nh Bình Phước. Ông ã giao ất cho ông H sử dụng nên không c n liên quan g ến phần ất nêu trên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H trình bày: Vào năm 2003, ng có b n cho ng Trần Duy T ở ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương một phần ất thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66 tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương diện tích chiều ngang khoảng 08 mét, chiều dài 60 mét với giá tiền 60.000.000 ồng. Ông ã giao phần ất trên cho ông T sử dụng. Ông T ã bán cho ai thì ông không biết, không liên quan g ến quyền lợi của ông.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy T trình bày: Vào năm 2003, ng có mua của ông Trần Văn H ở xã T, huyện Đ, t nh nh Phước một phần ất thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương có chiều ngang khoảng 08m x chiều dài 60m với giá tiền là 60.000.000 ồng. Vào năm 2005, ng ã b n phần ất trên cho ông ùi Văn H ở ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương. Sau ó, ng có nghe ng H b n lại phần ất trên cho vợ chồng ông C, bà T. Do việc mua b n ất của ông với ông Hệ ã xong nên ng h ng liên quan g ến phần ất trên nữa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông ùi Văn H trình bày: Vào năm 2009, ng có b n cho vợ chồng ông Vũ Văn C và bà Đặng Thị T một phần ất thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương chiều ngang khoảng 08 mét, chiều dài khoảng 60 mét với giá tiền là khoảng 145.000.000 ồng ến 150.000.000 ồng g ó. Ông b n phần ất trên cho vợ chồng ông C, bà T chứ không bán cho ai h c. Ông ã nhận ủ tiền và giao ất cho vợ chồng ông C, bà T sử dụng. Hiện tại ng h ng liên quan g ến phần ất trên nữa.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông ùi Văn H khẳng ịnh ngày 18/4/2009 ông có bán cho ông C, bà T diện tích ất ang tranh chấp, hai bên có làm giấy tờ chứ không bán cho ông H, việc mua bán giao tiền làm hai lần do ông C giao. Đến khoảng 02 năm sau ông H ến nhờ ông viết lại giấy sang nhượng ất ể làm hợp ồng mua iện rồi ông H cầm tờ giấy này i nhờ những người làm chứng xác nhận vào, giấy sang nhượng này, do nghĩ ch ể làm hợp ồng éo iện nên ông ký chứ không có giá trị pháp lý về việc b n ất cho ông H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Sư oàn 7, Qu n oàn 4 tr nh bày: Năm 1991 U ND t nh Sông Bé ra Quyết ịnh số 04/QĐ/U ngày 25/01/1991 về việc cấp giấy phép sử dụng ất cho Sư oàn 7, Qu n oàn 4 với diện tích 497,73 ha ể sản xuất nông lâm nghiệp, thời gian sử dụng 40 năm. Qu trình sử dụng ã ược UBND t nh Sông Bé cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất cho Sư oàn 7 số E813712 do Chi cục trưởng Chi cục quản l ất ai t nh Sông Bé ông Trần Huy L ký chấp thuận và cho phép Sư oàn 7 sử dụng 5.900.000m2 (trong ó 123.900m2 vào mục ích sử dụng hu gia nh l u dài). Từ năm 1987 ến ngày 15/12/1995 Sư oàn ã cấp ất cho 86 hộ (trong ó có 61 hộ của ơn vị, 11 hộ ơn vị khác và 14 hộ thuộc cán bộ ịa phương), theo danh s ch ang lưu tại ơn vị. Đến năm 1995-1996 Qu n oàn 4 ã tiến hành thu hồi toàn bộ 497,73 ha ất của Sư oàn 7 mà U ND t nh Sông Bé giao cho Sư oàn 7 năm 1991. Do vậy, toàn bộ diện tích ất nêu trên hiện nay Sư oàn 7 không quản lý (kể cả phần ất diện tích 474,1m2, thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66, toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương). Phần ất nêu trên ã ược bàn giao cho ịa phương quản l hay chưa th Sư oàn 7 không biết vì Sư oàn 7 không quản lý và không có thẩm quyền.

- Người làm chứng bà Vũ Thị M trình bày: Về số c y cao su bà là người ược ông H thuê trồng, bón ph n và chăm sóc. Việc mua cây giống là do ông C i mua bằng tiền của ông H. Còn việc mua ất và xây nhà thì bà ch nghe nói chứ không trực tiếp nhìn thấy.

- Người làm chứng ng ùi Đ nh T tr nh bày: Về số cây cao su ông là người ược ông H thuê trồng, bón ph n và chăm sóc. C n việc mua ất, xây nhà và việc cho mượn tiền thì ông không biết ông ch nghe nói lại. Trong quá trình xây nhà thì ông có ra phụ ông H ược vài hôm.

- Người làm chứng ông Nguyễn Hồng L trình bày:

Vào khoảng tháng 4/2012 ng Đặng Văn T ến nhà thuê xây nhà cho bà T nhà ở ấp B, xã A, hai bên không làm hợp ồng ch nói miệng với nhau, xây diện tích nhà hơn 100m2 cụ thể bao nhiêu ông không nhớ, thời gian xây khoảng 03 tháng là xong. Trong quá trình xây nhà ông T ứng tiền và tất toán công trình với ông khoảng 70 triệu ồng tiền công, khi xây nhà mọi cái cần mua b n trao ổi ng ều thông qua ông Tịnh như t n, cửa, d y iện…, ng có thấy ông H th nh thoảng có ến coi chứ ông H h ng thuê ng x y nhà cũng như h ng thanh toán tiền công.

Tại Bản n h n nh n và gia nh sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, t nh nh Dương ã quyết ịnh:

1. Đ nh ch một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn về việc chia ½ giá trị 400 c y cao su trên ất của ông Vũ Đ nh H.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn bà Đặng Thị T ối với bị ơn ng Vũ Văn C về việc chia tài sản chung, trả nợ chung.

3. Chấp nhận yêu cầu ộc lập của ng Đặng Văn T ối với yêu cầu bà T và ông C trả số tiền 360.000.000 ồng (ba trăm s u mươi triệu ồng). Chấp nhận yêu cầu ộc lập của ông Tịnh ối với yêu cầu bà T trả số tiền 27.000.000 ồng (tương ương gi trị 7,5 ch vàng 9999 tại thời iểm xét xử).

4. Không chấp nhận yêu cầu ộc lập của ông Vũ Đ nh H ối với diện tích ất 474,1m2 và toàn bộ tài sản trên ất gồm căn nhà cấp 4 có diện tích 125m2; tường rào lưới B40 diện tích 49,5m2 và 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha biển số xe 61P1 - 4840. Không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Đ nh H ối với yêu cầu ng Đặng Văn T trả số tiền vay 140.000.000 ồng (một trăm bốn mươi triệu ồng).

5. Chia tài sản chung:

- Tạm giao cho bà Đặng Thị T ược quyền quản lý, sử dụng phần ất có diện tích 474,1m2 thuộc thửa 57, tờ bản ồ 66 và toàn bộ tài sản gắn liền với quyền sử dụng ất gồm căn nhà cấp 4 có diện tích 125m2; tường rào lưới B40 diện tích 49,5m2 toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương tương ương số tiền 149.072.750 ồng (một trăm bốn mươi chín triệu, h ng trăm bảy mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi ồng).

(Có sơ ồ bản vẽ kèm theo).

Bà Đặng Thị T ược quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền ể ăng

kê khai thửa ất trên ể ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy ịnh của pháp luật.

- Ông Vũ Văn C ược quyền quản lý, sử dụng 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha, biển số xe 61P1 - 4840.

- Bà Đặng Thị T có trách nhiệm hoàn lại cho ông Vũ Văn C số tiền chênh lệch giá trị tài sản là 142.072.750 ồng (một trăm bốn mươi hai triệu, không trăm bảy mươi hai ngh n bảy trăm năm mươi ồng).

6. Buộc ông Vũ Đ nh H cùng c c thành viên trong gia nh có tr ch nhiệm giao lại cho bà Đặng Thị T diện tích ất 474,1m2 và toàn bộ tài sản gắn liền với quyền sử dụng ất (căn nhà diện tích 125m2 và tường rào lưới B40 diện tích 49,5m2) thuộc thửa 57, tờ bản ồ 66, toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương.

7. Về nợ chung: Buộc bà Đặng Thị T và ông Vũ Văn C có trách nhiệm liên ới trả cho ng Đặng Văn T số tiền 360.000.000 ồng (ba trăm s u mươi triệu ồng). Buộc bà T trả cho ng Đặng Văn T số tiền 27.000.000 ồng (hai mươi bảy triệu ồng) tương ương gi trị 7,5 ch vàng 9999 tại thời iểm xét xử.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết ịnh về chi phí tố tụng, n phí sơ thẩm, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền h ng c o cho c c ương sự theo quy ịnh của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/02/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đ nh H có ơn h ng c o toàn bộ bản n sơ thẩm và yêu cầu ịnh giá lại tài sản tranh chấp là ất và nhà.

Nguyên ơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội ồng xét xử ã tạo iều kiện cho các bên th a thuận với nhau về việc giải quyết vụ án: Ông C, ông H, bà H, ông T thống nhất sẽ nhận nhà và ất tranh chấp và thanh toán cho bà T 500.000.000 ồng chậm nhất vào ngày 20/3/2019. Bà T ồng ý nhận 500.000.000 ồn và giao ất và tài sản gắn liền với ất cho ông C, ông H. Tuy nhiên, c c ương sự không thống nhất về số nợ 360.000.000 ồng phải trả cho ông T nên c c ương sự không th a thuận ược với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, do ó Hội ồng xét xử giải quyết vụ n theo quy ịnh của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H – Luật sư Nguyễn Văn N trình bày: Về căn nhà trên phần ất tranh chấp thấy rằng chứng cứ của ông H phù hợp với các chứng từ là các giấy tờ của Ngân hàng thể hiện ông H ã rút tiền rất rõ ràng. Ngày 04/4/2012, ông H ược Ủy ban nhân dân xã A xác nhận có nhà, ất hợp ph p. Ông H và ng D x c ịnh b n ất cho ông H qua “Giấy sang nhượng” ngày 18/4/2009. Năm 2004, bà T ã t ch hộ khẩu, mọi sinh hoạt trong gia nh giữa bà T và ông H ã rạch r i, do ó năm 2009, ông H mua ất là hợp lý và h ng liên quan ến bà T. Về c c hóa ơn ng T cung cấp thì không có bản chính trong hồ sơ, trên c c hóa ơn h ng có người nhận. Bà T hai i làm lương th ng 4 ến 5 triệu ồng, ưa hết cho ông H ch giữ lại 500.000 ồng ể chi tiêu nhưng h ng có chứng cứ chứng minh. Ông H hai ưa tiền xây nhà cho ông T 08 lần có 02 lần ưa tại s n nhà c N nhưng T a n cấp sơ thẩm không mời cô N lên làm việc. Về số tiền 140.000.000 ồng ông H cho ông T vay tuy không có giấy tờ nhưng thực tế có giao tiền , ề nghị Hội ồng xét xử xem xét lời khai của bà M v bà M x c ịnh có biết việc ông H cho ông T vay số tiền này. Vì vậy, ề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H, bác yêu cầu khởi kiện của bà T.

Ý kiến của ại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh nh Dương:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng ã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo úng quy ịnh của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: T a n cấp sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu ộc lập của ông H. Ông H kháng cáo toàn bộ bản n sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H rút một phần kháng cáo về chiếc xe mô tô. Vì vậy, ề nghị Hội ồng xét xử nh ch xét xử phúc thẩm về phần này.

Về tài sản tranh chấp là ất và tài sản gắn liền với ất: Lời khai của ông Hệ x c ịnh là b n ất cho vợ chồng bà T và ông C chứ không phải ông H. Đ y là lời thừa nhận của ông H về việc mua b n ất. Về việc xây nhà ông H cho rằng ưa tiền cho ông T nhờ ng T ứng ra x y nhưng h ng có chứng cứ chứng minh. Bên ông H cho rằng c c hóa ơn do ng T cung cấp là giả tạo nhưng ông H lại thừa nhận số tiền xây nhà là 360 triệu ồng như ng T hai. Số tiền nợ 140.000.000 ồng ông H x c ịnh cho ng T vay nhưng h ng có chứng cứ chứng minh và cũng h ng ược thừa nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, T a n ã tiến hành ịnh giá lại tài sản tranh chấp là ất và tài sản gắn liền với ất nhưng nguyên ơn và bị ơn h ng h ng c o nên h ng có cơ sở xem xét. Đề nghị Hội ồng xét xử giữ nguyên bản n sơ thẩm về phần này.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ ã ược thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào ý kiến của ương sự, Luật sư, ại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh nh Dương và kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

NH N Đ NH CỦA T A N:

[1] Bà T và ông C thống nhất về tài sản ang tranh chấp là diện tích ất 474.1m2 thuộc thửa 57, tờ bản ồ 66 và toàn bộ tài sản gắn liền với quyền sử dụng ất gồm căn nhà cấp 4 có diện tích 125m2; tường rào lưới B40 diện tích 49.5m2 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh B nh Dương và 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha, biển số xe 61P1-4840, xe do ông Vũ Văn C ứng tên giấy ăng ký xe. Bà T cho rằng các tài sản này là tài sản chung. Tuy nhiên, ông C x c ịnh y là tài sản riêng của ông Vũ Đ nh H, không phải tài sản chung của ông C và bà Tuất.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ông H kháng cáo toàn bộ bản n sơ thẩm, yêu cầu t a n x c ịnh tài sản tranh chấp giữa bà T và ông C là tài sản riêng của ông H, cụ thể: Đất diện tích 474,1m2 thuộc thửa số 57, tờ bản ồ số 66, toàn bộ tài sản gắn liền với quyền sử dụng ất gồm căn nhà cấp 4 có diện tích 125m2; tường rào lưới B40 diện tích 49,5m2 toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương, 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha, biển số xe 61P1-4840. Ngoài ra, ông H còn yêu cầu Tòa án buộc ông T trả 140.000.000 ồng là tiền ông H, ông C và bà T cho ông T vay. Ông C, bà T, ông T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H rút một phần h ng c o ối với chiếc xe môtô hiệu Yamaha, Biển số xe 61P1-4840 do ông Vũ Văn C ứng tên giấy ăng xe, do ó Hội ồng xét xử phúc thẩm nh ch một phần kháng cáo của ông Vũ Đ nh H về phần này theo quy ịnh tại iểm c khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét kháng cáo của ông Vũ Đ nh H thấy rằng:

[4.1] Đối với phần ất có diện tích 474,1m2 thuộc thửa 57, tờ bản ồ 66, tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương: Về nguồn gốc ông H cho rằng là do ông H ưa tiền cho ông C i mua ất rẫy nhưng ông C không mua mà lại mua phần ất này với giá 150.000.000 ồng của ng ùi Văn H. Do vợ chồng bà T, ông C xảy ra mâu thuẫn, ông C b nhà i nên ng mới nói ông H viết lại “Giấy sang nhượng ất” cho ông ngày 18/4/2009 vào khoảng thời gian sau 02 năm. Bà T cho rằng ông H bán cho bà T và ông C và người b n ất là ông H cũng hẳng ịnh là b n ất cho bà Tuất, ông C. Việc ông H viết “Giấy sang nhượng ất” ngày 18/4/2009 là viết lại theo yêu cầu của ông H ể ông H làm thủ tục vào ồng hồ iện sinh hoạt chứ thực tế ông H không mua diện tích ất trên. Ông C thừa nhận việc ông H ưa tiền i mua ất và khẳng ịnh y là tài sản của ông H.

[4.2] Xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và c c lời khai của ương sự, người làm chứng có căn cứ x c ịnh: Vào năm 2009 vợ chồng bà T, ông C và ông ùi Văn H có thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng ất có diện tích 474,1m2 thuộc thửa 57, tờ bản ồ 66, tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh Bình Dương. Tại thời iểm xác lập giao dịch, do ất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng ất nên các bên ch viết 01 bản giấy tay, có 02 người làm chứng là ông D và ông N, giấy do bên mua là ông C và bà T giữ, ông H trực tiếp nhận 02 lần tiền từ ông C và bà T tại nhà ông T. Tại thời iểm giao dịch mua b n ất, giao nhận tiền ều không có mặt ông H.

[4.3] Bà Tuất, ông H ều cung cấp chứng cứ là Giấy mua b n ất ký giữa ông H với ông ùi Văn H có ông D và ông N làm chứng (bút lục 05), trong hồ sơ vụ án không có giấy mua bán giữa ông ùi Văn H với bà T ông C nhưng tại phiên tòa ông H không công nhận việc mua b n ất giữa ông ùi Văn H và ông H, mà ch x c ịnh b n ất cho vợ chồng bà T, ông C. Trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai của ương sự và người làm chứng có mâu thuẫn nhau, nguyên ơn h ng cung cấp ược chứng cứ, ặc biệt chứng cứ quan trọng là Giấy sang nhượng ất giữa ông H với vợ chồng bà T, ông C. Qua lời khai của ông C, bà T, ông H thì giấy tay giao ông ùi Văn H giữ, nhưng ông H cho rằng khi viết lại giấy tay giữa ông ùi Văn H và ông H thì ông H ã giao giấy cũ cho ng Bùi Văn H giữ. Theo lời trình bày của ông H và ông ùi Văn H th sau hi mua ất khoảng 02 năm th ông H và ông ùi Văn H có viết giấy tay trên cơ sở giấy cũ (bút lục 230). Ngoài ra, ng D cũng x c ịnh có chứng kiến việc giao dịch mua b n ất giữa bà T ông C và ông ùi Văn H và có ký vào Giấy sang nhượng ất năm 2009, còn giấy sau này ông H ưa th h ng có chứng kiến việc ông Bùi Văn H ký với ông H và mục ích là ể ông H ăng

iện. Ông C và ông H ều x c ịnh là tiền mua ất là của ông H. Bà T cho rằng tiền do vợ chồng tích cóp và mượn của ông T 7,5 ch vàng ể mua ất. Ông C, ông H không có chứng cứ chứng minh tiền là của ông H giao ông C mua ất, cũng h ng có chứng cứ phản bác nguồn tiền mua ất không phải là tiền của bà T và ông C do tích cóp mà có nên h ng có cơ sở x c ịnh y là tiền của ông H. Bà T ông C trực tiếp giao dịch mua ất của ông Hệ và thanh toán tiền cho ông Hệ, giao dịch diễn ra trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bà T ông C nên Tòa án cấp sơ thẩm xác ịnh ất là tài sản chung của bà T ông C là có cơ sở theo quy ịnh tại Điều 33 Luật Hôn nh n và Gia nh. Tuy nhiên, do ất tranh chấp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng ất, Tòa án cấp sơ thẩm có h i Ủy ban nhân dân huyện Phú Gi o ể x c ịnh có thuộc trường hợp ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất hay không? Ngày 30/12/2016, Ủy ban nhân dân huyện P có C ng văn số 1233/CV-UBND x c ịnh “hiện khu đất, thửa đất số 57, tờ bản đồ số 66, tiếp giáp đường ĐT 741 có diện tích 474,1m2 Ủy ban nhân dân huyện đang xem xét các thủ tục pháp lý để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh có hướng giải quyết” (bút lục 385). Tòa án cấp sơ thẩm ã có biên bản xác minh ngày 21/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã A x c ịnh ất chưa có bản vẽ và chưa xem xét c c giấy tờ tài liệu nên chưa biết trường hợp này có ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất hay không. Trường hợp nếu ủ iều kiện thì Ủy ban nhân dân xã sẽ chuyển hồ sơ lên Chi nh nh Văn ph ng Đăng

ất ai xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất (bút lục 386). Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện P và Ủy ban nhân dân xã A chưa trả lời là ất có ủ iều kiện ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất nhưng T a n cấp sơ thẩm x c ịnh tạm giao cho bà T quyền quản lý, sử dụng là chưa phù hợp với quy ịnh tại Điều 99 Luật Đất ai.

[5] Về tài sản gắn liền với quyền sử dụng ất tranh chấp gồm căn nhà cấp 4 có diện tích 125m2; tường rào lưới B40 diện tích 49,5m2 toạ lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương. Sau hi mua ất 474,1m2 thuộc thửa 57, tờ bản ồ 66, tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương. C c ương sự ều x c ịnh ến năm 2012 thì tiến hành xây nhà trên ất nhưng không có làm thủ tục xin giấy phép xây dựng do ất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng ất. Theo bà T và ông T thì tiền xây dựng nhà là do ông T cho vợ chồng bà T ông C vay 360.000.000 ồng và trực tiếp ứng ra thuê thợ, mua vật liệu và thanh toán các chi phí phát sinh trong quá trình xây dựng nhà nên nhà là tài sản chung của bà T ông C và bà T ông C có trách nhiệm trả 360.000.000 ồng lại cho ông T. Ông T không có chứng cứ chứng minh bà T ông C vay 360.000.000 ồng, ch có lời thừa nhận của bà T là có vay ông T 360.000.000 ồng và các chứng từ hóa ơn mua vật liệu xây dựng, các giấy giao nhận tiền cho bên thi công xây dựng công trình. Ông C, ông H cho rằng tiền xây nhà là do ông H ưa tiền cho ông T và nhờ ông T thuê thợ, trông coi thợ, mua vật liệu nên y là tài sản riêng của ông H, không phải là tài sản chung của bà T ông C. Tuy nhiên, ông C và ông H cũng không có chứng cứ chứng minh việc giao tiền cho ng T, cũng h ng có chứng từ mua vật liệu xây dựng nhà. Lời khai của người làm chứng là ng L (người trực tiếp xây dựng nhà) tại phiên t a sơ thẩm ngày 26/01/2018 (bút lục 516) thì cho rằng ông T thuê ông L xây nhà, trực tiếp trả tiền công và mua vật liệu, tuy nhiên ông L khai ông H là người ứng ra ch thợ xây. Như vậy, có cơ sở xác ịnh rằng ng T là người thuê thợ x y nhưng việc x y nhà như thế nào là theo ý chí của ông H. Do cả bà T, ông C ều không trực tiếp tham gia vào việc xây dựng nhà, cũng h ng trực tiếp thanh toán các khoản chi phí trong quá trình thi công xây dựng nên cần xem xét các chứng cứ h c ể x c ịnh sự thật khách quan của vụ án ể làm rõ chi phí xây dựng do ai b ra ể x c ịnh nhà thuộc quyền sở hữu của ai. Xét c c hóa ơn chứng từ trả công thợ, mua vật liệu xây dựng do ông T cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm tại các bút lục từ 379 ến 392 thấy rằng: Các chứng từ hóa ơn tại các bút lục 384, 392 ghi không rõ số tiền, h ng rõ nơi ph t hành, h ng rõ người mua người bán, giá trị c c hóa ơn tổng cộng chưa hớp với số tiền 360 triệu ồng nhưng cấp sơ thẩm chưa yêu cầu ông Tịnh cung cấp chứng cứ chứng minh tính xác thực của các chứng từ này, cũng chưa tiến hành xác minh làm rõ có phải là các chứng từ này thanh toán cho các chi phí xây dựng nhà ang tranh chấp hay là xây dựng nhà cho ông T, vì theo lời khai của ông T tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi ông T xây nhà cho ông T xong thì xây nhà cho bà T ông C. Mặt khác, cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc xây dựng nhà là ý chí của ai, tại sao bà T, ông C không tham gia việc xây dựng nhà, cũng không có tiền chi trả cho các khoản xây dựng cũng không có chứng cứ chứng minh x c ịnh bà Tuất, ông C có công sức óng góp vào việc tạo lập khối tài sản này nhưng lại chấp nhận yêu cầu của bà T x c ịnh nhà là tài sản chung của bà bà T, ông C. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm ông H khai khi làm nhà có mua g ể ốp la phông khoảng hơn 20.000.000 ồng, nên giá trị nhà không phải như ng T trình bày mà phải hơn 380.000.000 ồng. Đối chiếu lời khai này với lời khai của ông H tại cấp sơ thẩm (bút lục 514) ông H có khai xây nhà hết 397.000.000 ồng và ưa cho ng T 05 lần. Ông H x c ịnh ã ưa ng Tịnh 360.000.000 ồng làm 08 lần, còn g óng la ph ng là do ông H mua và làm. Tại phiên tòa phúc thẩm và bút lục 235 ng T x c ịnh ông Tịnh không có mua g óng la phông và do bà T ông C làm. Như vậy, các bên khai số tiền làm nhà có khác nhau nhưng cấp sơ thẩm ã h ng làm rõ có hay h ng việc ông H óng góp tiền mua g làm nhà. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H khai sau khi xét xử sơ, phúc thẩm lần 1 ông có làm lại s n xi măng hoảng 10.000.000 ồng. Mặt khác, c c ương sự trình bày khi xây nhà xong thì ông C không có ở nhà này, bà T ở trong nhà cùng ông H, bà H, con bà H và ch u V, ch u N ược khoảng 2, 3 tháng thì bà T b i sinh sống ở nơi h c, sau ó th ch u V, ch u N cũng i qua nhà ông T ở. Như vậy, từ cuối 2012 ến nay chủ yếu có ông H, bà H và con bà H sinh sống, giữ gìn. Bà T thừa nhận ông H có mua g làm la phông, có xây thêm s n xi măng và có ý kiến ai có công sức óng góp th sẽ ược hưởng và ề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy ịnh của pháp luật. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm và tại cấp sơ thẩm chưa ược xem xét giải quyết. Do ó, cần hủy một phần bản án về tranh chấp tài sản chung là nhà và ất ể cấp sơ thẩm thu thập thêm chứng cứ làm cơ sở giải quyết vụ n ược khách quan, toàn diện.

[6] Về giá trị tài sản tranh chấp: Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, ông H có yêu cầu T a n ịnh giá lại phần tài sản tranh chấp là ất và căn nhà cấp 4 gắn liền với ất. Vì vậy, giá trị tài sản có thay ổi. Theo kết quả ịnh giá ngày 26/9/2018 của Hội ồng ịnh giá tại cấp phúc thẩm thì tài sản tranh chấp là nhà, ất có giá trị như sau:

Đất: 474,1m2 x 2.000.000 ồng = 948.200.000 ồng

Nhà: 125m2x3.700.000 ồng x70%=323.750.000 ồng

Tường rào B40: 49,5m2 x 180.000 ồng x 70% = 6.237.000 ồng

Tổng giá trị ất và tài sản gắn liền với ất: 1.278.187.000 ồng

Giá trị nhà và ất tranh chấp có thay ổi nhưng nguyên ơn và bị ơn là người ược chia tài sản tranh chấp không kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm h ng xem xét ược và do cần hủy một phần bản n sơ thẩm ể xem xét lại phần tranh chấp tài sản chung nên khi giải quyết lại Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét lại giá trị tài sản tranh chấp ể ảm bảo quyền lợi cho c c ương sự.

[7] Đối với số tiền nợ 360.000.000 ồng của ông T: Ông T cho rằng cho vợ chồng bà T, ông C vay số tiền này nhưng ch có bà T thừa nhận còn ông C x c ịnh không có vay nợ. Ông T không cung cấp ược chứng cứ vay nợ nhưng ông T cho rằng 360.000.000 ồng là chi phí xây nhà cho vợ chồng bà T, ông C mà ông T ã b ra nên bà T, ông C phải trả cho ông T. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền xây nhà hết bao nhiêu, phần của ông Tịnh có úng là 360.000.000 ồng hay không mà ch dựa vào lời khai của bà Tuất, ông Tịnh và c c hóa ơn chưa ược xác minh làm rõ ể tuyên xử buộc ông C và bà T có trách nhiệm liên ới trả số tiền này cho ng T là chưa có cơ sở vững chắc. Tuy ông C, bà T, ông T, ông H không kháng cáo về phần này nhưng số tiền này có liên quan ến tài sản tranh chấp là căn nhà cấp 4 gắn liền với ất tranh chấp nên Hội ồng xét xử hủy án về phần này ể Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại cùng với tài sản tranh chấp.

[8] Về số tiền nợ 140.000.000 ồng: Ông H cho rằng ông cho ông Tịnh vay 140.000.000 ồng. Ông C và ông H x c ịnh số tiền này có 90.000.000 ồng là tiền của vợ chồng ông C, bà Tuất, 50.000.000 ồng là của ông H có ưa cho bà T ể ưa cho ng T vay. Tuy nhiên, ông T không thừa nhận vay số tiền này và ông H không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông H là phù hợp.

[9] Đối với 7,5 ch vàng 9999 trị gi 27.000.000 ồng tại thời iểm xét xử sơ thẩm, bà T thừa nhận có vay số tiền này của ông Tịnh. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bà T có nghĩa vụ trả số vàng này cho ông Tịnh và c c ương sự không kháng cáo phần này nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[10] Từ những phân tích trên, do cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa ầy ủ, nh gi chứng cứ chưa toàn diện ồng thời phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên Hội ồng xét xử hủy một phần bản n sơ thẩm về tranh chấp tài sản chung là ất và tài sản gắn liền với ất và phần nợ chung 360.000.000 ồng, giao về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy ịnh của pháp luật.

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại cấp phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu ộc lập là ông Vũ Đ nh H cón ơn xin miễn án phí. Xét thấy, ông Vũ Đ nh H, sinh năm 1947 (71 tuổi) nên thuộc trường hợp ược miễn án phí theo quy ịnh tại iểm hoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/U TVQH 14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, do ó miễn án phí cho ông H. Các phần khác sẽ ược tính án phí khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

[12] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu do hủy một phần bản n sơ thẩm.

[13] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H có cơ sở chấp nhận một phần.

[14] Ý kiến của ại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Bình Dương là phù hợp một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ các Điều: 148; 289; khoản 3 Điều 308; Điều 310; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/U TVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản l và sử dụng n phí và lệ phí T a n,

1. Đ nh ch xét xử phúc thẩm một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đ nh H về việc tranh chấp 01 chiếc xe môtô hiệu Yamaha biển số xe 61P1 – 4840 do ông Vũ Văn C ứng tên giấy ăng .

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu ộc lập ông Vũ Đ nh H.

Hủy một phần Bản n h n nh n và gia nh sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, t nh nh Dương về việc tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng ất có diện tích 474,1m2 và tài sản gắn liền với ất là căn nhà cấp 4 có diện tích 125m2; tường rào lưới B40 diện tích 49,5m2 gắn liền với phần ất thuộc thửa ất số 57, tờ bản ồ số 66 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện P, t nh nh Dương và phần nợ chung 360.000.000 ồng (ba trăm s u mươi triệu ồng), chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện P giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

3. Giữ nguyên một phần Bản n sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, t nh nh Dương về việc không chấp nhận yêu cầu ộc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đ nh H về việc yêu cầu ng Đặng Văn T trả số tiền nợ 140.000.000 ồng.

4. Hoàn trả cho ông Vũ Đ nh H số tiền 7.500.000 ồng (bảy triệu năm trăm ngh n ồng) tạm ứng n phí ã nộp theo Biên lai thu tiền số 0016136 ngày 09/8/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, t nh nh Dương.

5. Các phần khác của bản n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Vũ Đ nh H số tiền 300.000 ồng tạm ứng n phí ã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008487 ngày 08/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, t nh nh Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/11/2018)./.

Cỡ chữ