- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình giữa Võ Thị S và Dương Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị S được ly hôn với anh Dương Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:34/2018/HNGĐ-ST Ngày:30-7-2018. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Dũ
2. Bà Trần Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:43/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:33/2018/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Võ Thị S, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Dương Văn H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
(Tại phiên tòa có mặt chị chị S, vắng mặt anh H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Võ Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Văn H sống chung với nhau năm 2000, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/8/2002. Sau khi sống chung được một năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh H đi nhậu về kiếm chuyện mắng chửi chị, vợ chồng cứ nói chuyện là cự cải. Đến tháng giêng năm 2018, anh H nhậu về vợ chồng tiếp tục cự cải, anh H đánh chị phải nhập viện rồi anh bỏ nhà đi từ đó cho đến nay. Chị nhận thấy giữa chị và anh H không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn H.
Về con chung: Chị và anh H có hai con chung tên là Dương Thị Huyền T, sinh ngày 03/5/2001, Dương Trọng N, sinh ngày 30/11/2003, hiện hai cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con cho đến khi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh H không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Dương Văn H: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Dương Văn H nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Võ Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Dương Văn H và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.
Bị đơn anh Dương Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Võ Thị S tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Dương Văn H có nơi cư trú tại ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang và yêu cầu nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn anh Dương Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị S và anh Dương Văn H sống chung có đăng ký kết hôn năm 2002, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị S cho rằng vợ chồng thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm, chỉ cần nói chuyện là cự cải. Mâu thuẫn kéo dài từ năm 2001 cho đến tháng giêng năm 2018, vợ chồng tiếp tục gây gỗ, anh H đánh chị gây thương tích và bỏ nhà đi đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H, chị S khi mới phát sinh không lớn nhưng anh chị không có giải pháp giải quyết mâu thuẫn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng trầm trọng và anh chị đã không còn sống chung từ tháng giêng năm 2018 đến nay. Quá trình ly thân anh, chị hoàn toàn không liên hệ hay quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng anh H không đến tham gia hòa giải. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị S và anh H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị S.
Về con chung: Chị Võ Thị S yêu cầu trực tiếp nuôi con tên Dương Thị Huyền T, sinh ngày 03/5/2001, Dương Trọng N, sinh ngày 30/11/2003. Xét thấy các con chung của anh H, chị S đều chưa thành niên cần có người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và hai cháu đã sống chung với chị S từ lúc mới sinh ra cho đến nay, đồng thời nguyện vọng của cháu T, cháu N muốn tiếp tục sống chung với chị S. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, giao hai con chung cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Dương Văn H được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị S có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị S được ly hôn với anh Dương Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung Dương Thị Huyền T, sinh ngày 03/5/2001, Dương Trọng N, sinh ngày 30/11/2003 cho chị Võ Thị S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Dương Văn H được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
3. Về cấp dưỡng: Anh Dương Văn H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Võ Thị S chưa có yêu cầu.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị S phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị Võ Thị S đã nộp theo biên lai thu số 19172 ngày 12/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị S đã nộp xong án phí.
6. Về quyền kháng cáo:
Chị Võ Thị S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Dương Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phước; - CCTHADS huyện Tân Phước; - UBND xã P, huyện T, Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Thị Kim Hương |