- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dao Thi Cam G - Nguyen Van T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 6 - 2018 V/v: Tranh chấp “ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Cẩm Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Cúc.
2. Ông Danh Riêng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Đức – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang:
Không tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng,
tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2018/TLST -
HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con khi ly hôn”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2018/QĐXX-ST, ngày 15 tháng 5 năm
2018. Giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Cẩm G, sinh năm: 1989; địa chỉ: Ấp V, xã N,
huyện G, tỉnh K; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Ấp V, xã N, huyện
G, tỉnh K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/10/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn
là Chị Đào Thị Cẩm G trình bày:
Chị và chồng là anh Nguyễn Văn T tự tìm hiểu, quen biết nhau và đã tổ chức
đám cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G,
tỉnh K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp tánh tình, thường xuyên bất đồng quan điểm. Anh, chị đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2017 cho đến nay. Quá trình chung sống anh, chị có một đứa con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 10/02/2011, hiện cháu N đang sống với gia đình anh T và gia đình ông, bà nội. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nay chị G khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn
với anh T, chị giao cháu N cho anh T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Anh T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không
gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập anh T đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng:
Chị Đào Thị Cẩm G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh
Nguyễn Văn T và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS). Anh T với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại
phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh T không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS. [2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị G và anh T kết hôn vào tháng 01/2009 và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã V, huyện G, tỉnh K nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2017, từ đó cho đến nay hai
bên không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng
quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì
vậy, chị G yêu cầu được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1
Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp
nhận.
Về con chung: Anh, chị có một đứa con chung tên Nguyễn Thị Huỳnh N,
sinh ngày 10/02/2011, hiện chú Như đang sống với gia đình anh T và gia đình
ông, bà nội. Xét thấy, dưới sự chăm sóc, giáo dục của anh T và ông, bà nội hiện
nay cháu N đang sinh sống ổn định và phát triển bình thường. Mặc khác, tại bản
tự khai ngày 02/5/2018 cháu N có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung
với anh T và ông, bà nội khi cha, mẹ ly hôn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81
Luật hôn nhân và gia đình thì: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con,
nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa
thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào
quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét
nguyện vọng của con”. Đối chiếu với quy định trên thì việc chị G giao cháu N cho
anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử
(HĐXX) chấp nhận. Chị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được
cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo lời trình bày của chị G, anh T có việc làm và
có thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung. anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về
việc thụ lý vụ án nhưng anh không gửi văn bản ghi ý kiến về việc khởi kiện của
nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu chị G phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa
án không xem xét. Nếu anh, chị có tranh chấp về việc cấp dưỡng nuôi con thì có
quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Không có.
Về án phí:
Chị G yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu
cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí số 0002527 ngày 19/4/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự
huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và
gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Chị Đào Thị Cẩm G được ly hôn
với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 10/02/2011 cho anh T chăm sóc
và nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị G có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cấm.
Cháu N có nguyện vọng sống với cha khi cha, mẹ ly hôn.
3. Về án phí:
Chị G yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu
cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0002527 ngày 19/4/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - UBND xã; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Tú |