- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thanh Tre xin ly hôn với Hà Văn Tho"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI -TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HNGĐ-ST Ngày 22-02-2018 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sơ thẩm goàm coù:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hải Âu.
Ông Phạm Việt Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 22 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thanh Tr, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Hà Văn Th, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Lý Thanh Tr trình bày: Chị với anh Hà Văn Th chung sống với nhau năm 2000, đến ngày 23/5/2017 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Vợ chồng có thời gian sống hạnh phúc và sinh được ba con chung là Hà Cẩm Ng, sinh năm 2001, Hà Tuấn K, sinh năm 2002 và Hà Chí Ngh, sinh ngày 06/9/2005. Tuy nhiên, anh Th thường xuyên uống rượu về chửi mắn, đánh đập chị. Nhiều lần chị phải nhờ gia đình, chính quyền ấp, xã hòa giải hàn gắn, anh Th hứa nhưng không sửa đổi. Hiện tại chị không còn thương anh Th nên xin được ly hôn, xin được nuôi cháu Ngh, còn hai đứa con đầu chị với anh Th sẽ tự thỏa việc việc nuôi dưỡng. Thời gian chung sống vợ chồng có tài sản chung nhưng sẽ tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Th, nhưng anh không có văn bản phản đối. Hai lần Tòa án thông báo hòa giải và xét xử nhưng anh đều không tham gia.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Hà Văn Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Theo như chị Tr khai thì mâu thuẫn chủ yếu của anh, chị xuất phát từ việc anh Th uống rượu nhiều, về chửi mắn, đánh đập chị dẫn đến phải sống ly thân. Anh Th không phản đối, cũng không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị Tr, thể hiện nhiều lần Tòa án triệu tập, anh đều không tham gia. Thấy rằng: Pháp luật qui định vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đở nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc của gia đình. Anh Th không thực hiện được điều này, mà ngược lại làm xấu đi tình trạng hôn nhân, dẫn đến vợ chồng ly thân. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân dân không còn đạt được. Do đó, Tòa án cần chấp nhận yêu cầu của chị Tr, cho chị Tr được ly hôn với anh Th theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Chị Tr xin được tiếp tục nuôi cháu Ngh và thỏa thuận với anh việc nuôi dưỡng hai cháu lớn. Thấy rằng: Cháu Ngh mong muốn được sống với chị Tr, anh Th không phản đối. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Tr, giao cháu Ngh cho chị Tr tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Do chị Tr không yêu cầu nên Tòa án không buộc anh Th phải cấp dưỡng cho chị Tho nuôi con.
Chị Tr không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung mà tự thỏa thuận với anh Th, anh không phản đối, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Chị Tr khai anh chị không nợ ai và không ai nợ lại, anh Th không phản đối, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình chị Lý Thanh Tr phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thanh Tr. Cho chị Lý Thanh Tr được ly hôn với anh Hà Văn Th.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thanh Tr. Giao cháu Hà Chí Ngh, sinh ngày 06/9/2005 cho chị Lý Thanh Tr tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Hà Văn Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lý Thanh Tr phải chịu là 300.000 đồng. Chị Tr đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0009225 ngày 27/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị Tr đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nôi nhaän: - Viện kiểm sát nhân dân huyeän Ñaàm Dôi; - Ủy ban nhân dân xã T; - Các đương sự; - Löu: VT, hoà sô vuï aùn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Liêu Chí Khanh |