- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi Văn Đ được ly hôn với chị Vũ Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HNGĐ-ST Ngày: 15/6/2018 “V/v: Tranh chấp HN&GĐ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân
1. Ông Nguyễn Mạnh Dũng.
2. Bà Lê Thị Thận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Tình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh BP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Tâm.
Trong ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân nhân dân huyện B, tỉnh BP. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 29/2018/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2018, về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vi Văn Đ; Sinh năm 1985. (Có mặt)
HKTT: Thôn BH, xã N, huyện B, tỉnh BP.
2. Bị đơn: Vũ Thị Th; Sinh năm 1973. (Vắng mặt)
HKTT: Thôn BH, xã N, huyện B, tỉnh BP.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/01/2018, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Vi Văn Đ trình bày: Anh và chị Th tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ tháng 9/2016, một thời gian sau thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh BP. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Th không chăm lo cuộc sống gia đình và có nhiều mối quan hệ bất minh ngoài xã hội. Ngoài ra, vào khoảng cuối năm 2017 đầu năm 2018 khi anh đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất là tài sản riêng có trước hôn nhân của anh thì chị Th yêu cầu cho chị đứng tên đồng sử dụng nhưng anh không đồng ý nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau rồi chị Th bỏ nhà đi. Từ khi bỏ đi đến nay chị Th không liên lạc với anh, anh cũng không biết nơi ở cố định của chị Th ở đâu. Chị Th quen và kết hôn với anh không xuất phát từ tình yêu chân chính mà vì lý do tài sản, khi không đạt được mục đích của mình thì bỏ đi, nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Th. Anh và chị Th không có con chung, không có tài sản, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Vũ Thị Th: Đã nhận thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, không tham gia phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm.
Tại biên bản xác minh ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện B đối với ông Phạm Văn H là thôn trưởng thôn BH, xã N cho biết: “Ban quản lý thôn cũng nghe thông tin anh Đ chị Th xảy ra mâu thuẫn gia đình, hiện nay chị Th đã bỏ đi không còn chung sống với anh Đ. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình ban ban quản lý thôn không nắm rõ”.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B trình bày ý kiến, quan điểm về vụ án: Việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đảm bảo thủ tục tố tụng; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Đ và chị Th được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký và được Uỷ ban nhân xã N, huyện B, tỉnh BP cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18, ngày 05/6/2017, anh Đ cho rằng chị Th kết hôn vì lý do tài sản nhưng không có căn cứ chứng minh, nên quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị Th là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh Đ nghi ngờ chị Th có nhiều mối quan hệ nam nữ không lành mạnh ngoài xã hội, không yêu thương anh thực sự mà kết hôn chỉ vì mục đích lợi dụng kinh tế nên hai bên thường xuyên cãi vã làm cho mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Từ khoảng đầu năm 2018 chị Th đã bỏ nhà sống ly thân đến nay, từ khi bỏ đi hai bên không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết có anh được ly hôn với chị Th. Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị Th không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến bằng văn cho Tòa án, không tham gia phiên họp và hòa giải cũng như phiên tòa sơ thẩm nên coi như chị Th tự từ bỏ quyền chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chính quyền nơi anh Đ, chị Th cư trú cũng xác nhận anh chị xảy ra mâu thuẫn gia đình, chị Th đã bỏ nhà đi từ đầu năm 2018 đến nay, không rõ đi đâu làm gì. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị Th là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị Th là có căn cứ cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh Đ và chị Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về tài sản, nợ chung: Anh Đ và chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các điều 35, 147, 171; Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vi Văn Đ được ly hôn với chị Vũ Thị Th.
3. Về án phí: Anh Vi Văn Đ phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021763 ngày 18/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh BP.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BP; - VKSND huyện B; - CCTHADS huyện B; - UBND xã N; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Huệ |