- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| !!!QUẬN!THỐT!NỐT! ! !!!!!!!TP.!CẦN!THƠ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HNGĐ-ST Ngày: 07/5/2018 V/v: "Tranh chấp ly hôn" |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!THỐT!NỐT!-!TP!CẦN!THƠ!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng!Ngọc!Hạnh.!
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Bà Trần!Thúy!Kiên!
2/. Ông Nguyễn!Văn!Đông!
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn!Thị!Thu!Sáu!- Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ: Ông Võ!Long!Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn!Thị!Ngọc!H!!- sinh năm: 1997 (Có mặt)
Bị đơn: Ông Thái!Văn!P!–!sinh năm: 1989 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
NHẬN!THẤY!
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và bị đơn ông Thái Văn P thống nhất xác định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông P trước đây do quen biết và tự nguyện tiến tới hôn nhân, được sự chấp thuận của gia đình có tổ chức lễ cưới vào ngày 02/11/2013 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải, gia đình không hạnh phúc, vợ chồng ly thân khoảng 7 tháng nay. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên bà H yêu cầu ly hôn với ông P, ông P cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.
Về con chung: Bà H và ông P thống nhất xác định có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc N – sinh ngày: 18/8/2015, cháu N hiện đang do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà H và ông P thống nhất thỏa thuận giao cháu N cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông P thống nhất xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày. Bị đơn ông Thái Văn P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị không công nhận bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Thái Văn P là vợ chồng; Về con chung: Tiếp tục giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.
XÉT!THẤY!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét việc bị đơn ông Thái Văn P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông P là phù hợp.
Xét về quan hệ hôn nhân: Giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và bị đơn ông Thái Văn P mặc dù tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào ngày 02/11/2013 nhưng đến nay bà H và ông P không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Theo quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Do đó, trong quá trình thu thập chứng cứ mặc dù bà H xin ly hôn và ông P cũng đồng ý ly hôn nhưng không có cơ sở công nhận thuận tình ly hôn mà phải mở phiên tòa xét xử tuyên bố không công nhận bà H và ông P là vợ chồng mới phù hợp.
Về con chung: Bà H và ông P xác định có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc N – sinh ngày: 18/8/2015, cháu N hiện đang do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà H và ông P thống nhất thỏa thuận giao cháu N cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự thỏa thuận của các đương sự nghĩ nên công nhận.
Về tài sản chung và nợ chung:!Bà H và ông P thống nhất xác định không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà H phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử:
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn cứ vào:
- Các điều 28; 35; 147; 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các điều 53; 81; 82; 83 Luật hôn nhân & gia đình 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Thái Văn P là vợ chồng.
Về con chung: Công nhận bà H và ông P có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ngọc N – sinh ngày: 18.8.2015. Tiếp tục giao cháu N cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông P, không ai được quyền ngăn cản. Bà H và ông P được quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung:!Bà H và ông P xác định không có.
Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt theo biên lai thu tiền số AA/2016/003794 ngày 01/3/2018 sang án phí (Công nhận bà H đã nộp xong).
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi!nhận:
| - TAND TP. Cần Thơ; - VKS quận Thốt Nốt; - THA quận Thốt Nốt; - Các đ/s; - Lưu hồ sơ. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA (Đã ký) Hoàng!Ngọc!Hạnh |