vanban.org

Bản án 34/2018/DS-ST — Dân sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 27/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Vì vậy, áp dụng các Điều 428, Điều 429, Điều 430 và Điều 431 Bộ luật dân sự 2005; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 245 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) đối với ông Trần Thanh Ph. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Vì vậy, áp dụng các Điều 428, Điều 429, Điều 430 và Điều 431 Bộ luật dân sự 2005; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 245 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 245 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2018/DS-ST
Ngày: 27/7/2018
V/v tranh chấp họp đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Phan Hoàng Mai.

2.Bà Lê Thị Thanh Vân.

-Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Kim Hường-Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2017/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK).

Địa chỉ trụ sở: ấp PhKh, xã SL, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK): Ông Lê Văn Ch, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp PhKh, xã SL, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 14/09/2016).

2.Bị đơn: Ông Trần Thanh Ph, sinh năm 1979.

Địa chỉ: đường ỶL, khóm BK7, phường BK, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) trình bày và có ý kiến như sau:

Ngày 20/02/2013, ông Trần Thanh Ph có nhận lúa giống của Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK để bán cho bà con nông dân trong tỉnh An Giang. Việc mua bán lúa giống giữa Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK và ông Trần Thanh Ph chỉ thỏa thuận miệng không làm văn bản. Khi giao đủ hàng, ông Trần Thanh Ph có ký nhận vào sổ của Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK. Thời gian đầu, ông Trần Thanh Ph làm ăn rất uy tín, khi Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK giao lúa chừng khoản 5 đến 10 ngày hoặc tối đa là một tháng là ông Ph thanh toán tiền đầy đủ. Từ ngày 26/4/2013 cho đến nay ông Trần Thanh Ph còn nợ Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK theo sổ mua hàng Phương AG với số tiền 92.952.000đ.

Ngày 18/7/2016, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo-LK đối với ông Trần Thanh Ph. Trong quá trình giải quyết vụ án, Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo-LK đang đăng ký kinh doanh với tên chủ thể là Hộ kinh doanh Lê Văn Ch; ông Trần Thanh Ph thừa nhận còn nợ tiền mua bán lúa giống là 92.952.000đ với Hộ kinh doanh Lê Văn Chính chứ không giao dịch, nợ tiền của Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo-LK, nên Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo-LK đã rút lại yêu cầu khởi kiện ngày 18/7/2016 và được Tòa án giải quyết bằng Quyết định đình chỉ số 84/2016/QĐST-DS ngày 30/8/2016.

Từ đó cho đến nay, ông Trần Thanh Ph cũng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nên nguyên đơn khởi kiện và yêu cầu ông Trần Thanh Ph phải chịu trách nhiệm thanh toán cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) với số tiền là 92.952.000 đồng và tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 8/12/2015 cho đến ngày xét xử.

2.Quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử bị đơn ông Trần Thanh Ph trình bày và có ý kiến như sau:

Thống nhất có mua bán lúa giống và ký nhận vào sổ mua hàng Phương AG đúng như lời trình bày của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) và hiện còn nợ lại tiền mua lúa giống là 92.952.000đ nhưng ông Trần Thanh Ph không đồng ý thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thanh Ph có gửi đơn phản tố ghi ngày 07/4/2017 nhưng nội dung đơn chỉ thể hiện ý kiến phản bác của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không thể hiện yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản thông báo về phiên hop kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đối chất cho ông Ph nhưng ông Trần Thanh Ph vắng mặt không lý do, không cung cấp chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa ông Trần Thanh Ph trình bày lý do ông không trả tiền nợ mua lúa giống là nguyên đơn giao lúa giống cho bị đơn kém chất lượng, dẫn đến thiệt hại cho ông Ph trên 100.000.000đ, ảnh hưởng đến uy tín của ông Ph tại địa bàn tỉnh An Giang; nhiều hộ nông dân do mua lúa kém chất lượng đã không trả tiền cho ông Ph nên ông Ph không thu được tiền để trả cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch. Do đó đối với đơn phản tố ghi ngày 07/4/2017 và yêu cầu bồi thường thiệt hại do nguyên đơn giao lúa giống cho bị đơn kém chất lượng, dẫn đến thiệt hại cho ông Ph trên 100.000.000đ, ảnh hưởng đến uy tín của ông Ph tại địa bàn tỉnh An Giang thì ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, sẽ khởi kiện để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết thành một vụ án khác.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hộ kinh doanh Lê Văn Ch yêu cầu ông Trần Thanh Ph trả số tiền 92.952.000đ . Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tính lãi suất từ ngày 08/12/2015 đến khi xét xử vụ án. Bị đơn ông Trần Thanh Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết quan hệ tranh chấp là đòi tài sản giữa nguyên đơn là Hộ kinh doanh Lê Văn Ch với bị đơn là ông Trần Thanh Ph nhưng trong quá trình giải quyết vụ án căn cứ vào các chứng cứ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là phù hợp theo khoản 3 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Quan hệ mua bán lúa giống giữa Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) và ông Trần Thanh Ph được thực hiện trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận miệng, không làm văn bản. Quá trình thực hiện, ông Trần Thanh Ph còn nợ Hộ kinh doanh Lê Văn Ch số tiền là 92.952.000đ thể hiện qua 01 sổ mua hàng Phương AG có chữ ký của Trần Thanh Ph. Nguyên đơn yêu cầu ông Trần Thanh Ph phải có trách nhiệm thanh toán cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) với số tiền là 92.952.000 đồng và tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 8/12/2015 cho đến ngày xét xử. Còn bị đơn ông Trần Thanh Ph thừa nhận có mua lúa giống và ký nhận vào sổ mua hàng Phương AG, hiện còn nợ lại tiền lúa giống là 92.952.000đ nhưng ông Trần Thanh Ph không đồng ý thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn với lý do ông không trả tiền nợ lúa giống do nguyên đơn giao lúa giống cho bị đơn kém chất lượng, dẫn đến thiệt hại cho ông Ph trên 100.000.000đ, ảnh hưởng đến uy tín của ông Ph tại địa bàn tỉnh An Giang; nhiều hộ nông dân do mua lúa kém chất lượng đã không trả tiền cho ông Phương nên ông Ph không thu được tiền để trả cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch.

Nhận thấy, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là 01 sổ mua hàng Phương AG có chữ ký của ông Trần Thanh Ph với số tiền nợ còn lại là 92.952.000đ đã thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận miệng để giao dịch mua bán lúa giống để cung cấp lúa giống cho nông dân tại địa bàn tỉnh An Giang là thực tế có xảy ra, phù hợp quy định tại Điều 428, Điều 429, Điều 430 và Điều 431 Bộ luật dân sự 2005. Tại phiên tòa, ông Trần Thanh Ph thừa nhận có mua lúa giống, có ký nhận vào 01 sổ mua hàng Phương AG của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch và còn nợ số tiền 92.952.000đ nhưng ông Trần Thanh Ph không đồng ý thực hiện nghĩa vụ trả nợ với lý do nguyên đơn giao lúa giống cho bị đơn kém chất lượng, dẫn đến thiệt hại cho ông Ph trên 100.000.000đ, ảnh hưởng đến uy tín của ông Ph tại địa bàn tỉnh An Giang; nhiều hộ nông dân do mua lúa kém chất lượng đã không trả tiền cho ông Ph nên ông Trần Thanh Ph không thu được tiền để trả cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Thanh Ph có gửi đơn phản tố ghi ngày 07/4/2017 nhưng nội dung đơn chỉ thể hiện ý kiến phản bác của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không thể hiện yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản thông báo về phiên hop kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đối chất cho ông Ph nhưng ông Trần Thanh Ph vắng mặt không lý do, không cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Vì vậy, không có căn cứ để xem xét chấp nhận ý kiến trình bày cũng như nội dung phản tố của bị đơn theo quy định tại điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, theo trình bày của ông Trần Thanh Ph đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do nguyên đơn giao lúa giống cho bị đơn kém chất lượng, dẫn đến thiệt hại cho ông Trần Thanh Ph trên 100.000.000đ, ảnh hưởng đến uy tín của ông Trần Thanh Ph tại địa bàn tỉnh An Giang thì bị đơn ông Trần Thanh Ph không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để buộc ông Trần Thanh Ph phải chịu trách nhiệm trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

Xem xét về việc nguyên đơn Hộ kinh doanh Lê Văn Ch yêu cầu ông Trần Thanh Ph phải trả lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 8/12/2015 cho đến ngày xét xử. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Hộ kinh doanh Lê Văn Ch chỉ yêu cầu ông Trần Thanh Ph phải trả tiền nợ còn lại là 92.952.000đ không yêu cầu trả lãi. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch đối với ông Trần Thanh Ph về việc yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 8/12/2015 cho đến ngày xét xử.

Như vậy, ông Trần Thanh Ph phải chịu trách nhiệm trả cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) số tiền 92.952.000đ (chín mươi hai triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).

Về án phí:

+ Ông Trần Thanh Ph phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 4.647.600đ (bốn triệu, sáu trăm bốn mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

+ Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Vì vậy, áp dụng các Điều 428, Điều 429, Điều 430 và Điều 431 Bộ luật dân sự 2005; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 245 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) đối với ông Trần Thanh Ph.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) đối với ông Trần Thanh Ph về việc yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 8/12/2015 cho đến ngày xét xử.

- Buộc ông Trần Thanh Ph phải chịu trách nhiệm trả cho Hộ kinh doanh Lê Văn Ch do bà Lê Thị M là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) số tiền 92.952.000đ (chín mươi hai triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Hộ kinh doanh Lê Văn Chính do bà Lê Thị Mười là người đại diện hộ kinh doanh (tên thường gọi để giao dịch là Cơ sở sản xuất và cung cấp lúa giống 9 Táo-LK) được hoàn lại 2.323.000đ (hai triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0010777 ngày 21 tháng 3 năm 2017 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

+Ông Trần Thanh Ph phải nộp 4.647.600đ (bốn triệu, sáu trăm bốn mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ